Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,062

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tiếp nhận thơ Tố Hữu thời kỳ trước 1945

Nguyễn Hữu Sơn

  • Thứ năm, 16:18 Ngày 03/12/2020
  • Tóm tắt: Vấn đề sự ra đời dòng thơ vô sản và tương quan thơ cách mạng trong phong trào Thơ mới (1932-1945) đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bài viết tập trung giới thiệu tư liệu và đặc điểm sáng tác của Tố Hữu thuộc loại “bên lề” nhưng đã đứng về số đông những người lao động cùng khổ, bày tỏ sự phê phán chế độ xã hội bất công và lên tiếng tranh đấu cho một ngày mai tươi sáng. Nhấn mạnh tiếng nói người đương thời bàn về thơ Tố Hữu thời kỳ trước Cách mạng (yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu, lạc quan), dự báo trở thành người dẫn đường nền thơ Cách mạng, vị nhân sinh và cuộc đấu tranh xã hội, giải phóng dân tộc..

                    

    1. Vào thời kỳ “tiền khởi nghĩa”, còn hoạt động “trong bóng tối” trước Cách mạng tháng Tám 1945, Tố Hữu (1920-2002) đã làm khá nhiều thơ. Trên thực tế, thơ Tố Hữu có phần in công khai trên báo chí cách mạng và khuynh tả thời kỳ phong trào Dân chủ (1936-1939), phần nhiều in báo chí bí mật của Đảng và gắn với hoạt động phổ biến, tuyên truyền trên các báo Dân, Thế giới, Thời báo, Tay thợ, sau được tập hợp trong Từ ấy (1946)… Chẳng hạn, ông có hai bài thơ in trên báo Dân (Tuần báo công khai của Xứ uỷ Trung Kỳ, Huế, 1938) [3] [4]. Điều đặc biệt là ngay từ đương thời chế độ thực dân trước 1945, thơ Tố Hữu đã được ghi nhận là “nhà thơ của tương lai” và chính ông đã tham dự vào đời sống thi ca đương đại, trong đó có mối liên hệ với phong trào Thơ mới và tiếng thơ của bậc đàn anh Nam Trân (1907-1967)…

    2. Ngay từ khởi đầu phong trào Thơ mới (1932), trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), bên cạnh dòng chủ lưu tiếng thơ chủ nghĩa lãng mạn, “thức tỉnh cá nhân” đồng thời đã manh nha xuất hiện chi lưu thơ tả thực, thơ cần lao, thơ vô sản, “khuynh hướng xã hội” với những bài của Thụy An, Tịnh Sơn, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Thị Đồng, Tuyên Thanh An Thị… Tiến lên một bước là tiếng thơ tranh đấu. Phác Căn kịp thời sơ kết và xác định: “Bắt đầu từ năm 1935-36, một vài thi sĩ xã hội ra đời, người ta thường gọi là thơ bình dân. Song nghệ thuật còn quá kém cỏi, câu văn còn quá sống sượng, nên thơ bình dân không “chinh phục” được nhiều người. Nhưng lần lần, lối thơ ấy chưa nẩy nở ra nhiều, nghệ thuật được dồi dào hơn. Người ta được đọc của Huy Ân, Tuyết Sơn, Hải Nam, v.v… Gần đây những thơ ấy có chiều lạc quan hơn. Các nhà thơ đã biết lên giọng gay gắt lên án chế độ xã hội, kêu gọi tranh đấu, phản đối chiến tranh. Các nhà thơ đã biết làm tròn nhiệm vụ của họ. Trong số này ta nên kể: Thôn Dân, Thế Nhu, Dương Lĩnh, Hồ Xanh, Vạn Thế Hùng… Lời thơ của họ không còn là tiếng rên la tuyệt vọng của cô gái xuân hay là tiếng than vãn của anh chàng si tình mất vợ, mà chính là lời anh dũng của vô sản cùng hoan hô và nắm tay nhau ra trận tuyến giết kẻ thù chung” [2, tr.319-322]

    Trực diện tiếp nhận tiếng thơ của nhà thơ cách mạng trẻ tuổi, hai cây bút phê bình cách mạng K và T[1] đã viết Tố Hữu – nhà thơ của tương lai trên báo Mới (1939) ngay sau khi Tố Hữu bị bắt tù (ngày 27-4-1939), bày tỏ sự đồng cảm và thán phục: “Cách đây hơn hai năm, tình cờ tôi được đọc một bài thơ của Tố Hữu đăng ở Thời báo. Tôi bị cái hấp lực của nguồn thơ ấy cuốn đi. Lần đầu tiên, tôi gặp nhà thi sĩ đúng quan niệm của tôi. Rồi từ đấy, mỗi lần thấy thơ Tố Hữu là tôi không thể không đọc. Và đọc một bài thơ Tố Hữu là tôi có cảm giác quen quen, hình như tôi đã thấy đâu một lần rồi. Thì ra bao nhiêu những tình cảm của tôi, mà chính tôi không hề mô tả được, tôi đã tìm thấy trong thơ Tố Hữu”[6], đồng thời giới thuyết cách thức tiếp nhận thơ Tố Hữu: “Phê bình thơ là một việc làm khó khăn lắm. Vì trong ấy, tất cả những yếu tố của thơ: chữ, màu sắc, âm thanh, hình ảnh quấn quýt lấy nhau, ôm chặt lấy nhau, thành thử cảm cái hay thì dễ, mà tả cái hay thì khó. Cho nên bảo bài này là một bài phê bình thì quá đáng. Tôi chỉ là một người yêu thơ Tố Hữu. Tôi muốn giới thiệu Tố Hữu với bạn đọc để bạn đọc có thể yêu thơ Tố Hữu như tôi. Vì Tố Hữu không phải là một nhà thơ của riêng tôi, mà còn là nhà thơ của tất cả thanh niên, nhà thơ tương lai. Bạn đọc hãy cùng tôi tỷ mỷ phân tách những yếu tố của thơ Tố Hữu ra, rồi chúng ta cùng xem. Vì chỉ có thế mới thấy rõ được nghệ thuật của thơ Tố Hữu” [6]...

                Điều thú vị là hai nhà phê bình lại trước hết tập trung phân tích, lý giải cái hay cái đẹp của thơ Tố Hữu từ hình thức nghệ thuật, từ đặc điểm ngôn từ, câu chữ, thi tứ, hình ảnh, nhịp điệu:

    “Hãy xem qua cách dùng chữ của Tố Hữu:

                            Nắng xuân tưới trên thân cây dừa xanh dịu,

                            Tàu cau non lấp loáng muôn gươm xanh.

                            Ánh nhởn nhơ đùa cỏ non trắng phếu,

                            Và chảy tràn qua kẽ lá vườn chanh.

                Mỗi chữ dùng vừa đủ để phát biểu một ý kiến, vừa đủ để mô tả sự vật. Người ta có cái cảm giác rằng nhà thơ Tố Hữu đã dày công gọt đẽo lắm mới đặt được những chữ khéo léo và đúng địa vị của chúng nó. Nhưng không! Thơ Tố Hữu chạy một cách rất dễ dàng và trong câu nào, bài nào cũng thấy cái sở trường của lối dùng chữ dễ dãi mà khéo léo ấy:

                            Em len lén, cúi đầu, tay xách gói

                            Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te…

                            Em ngoái cổ nhìn anh, ta chỉ trả

                            Thầm cho nhau đôi mắt ướt ly sầu!

    Nếu không có cái tài tình của nhà nghệ sĩ tin cậy ở cây viết mình, và cái táo bạo của nhà cách mạng thì tưởng cũng khó tìm ra và dùng nổi những câu chữ của Tố Hữu. Khi người đọc đến những chữ «nắng xuân tươi», «muôn gươm xanh», «mắt ướt ly sầu» thì những chữ ấy không còn là chữ đen trên giấy trắng nữa, mà đã hóa ra những cảnh thực” [6]...

                Hai cây bút phê bình nhấn mạnh đặc tính phong cách, tính nhạc, chất thơ và tài năng sáng tạo:

    «Và những cảnh thực với tất cả màu sắc của chúng nó. Hãy đọc lại những câu «nắng xuân tươi»… ta cũng đã thấy cái cảnh xuân tươi với bao nhiêu rực rỡ và dịu dàng của nó. Nhưng bạn có muốn nhìn thêm một đôi cảnh nữa chăng! Thì đây:

                            Đèo cao vút vươn mình trong lau xám

                            Đá uy nghiêm trầm mặc dưới trời tro…

                            Đêm hôm nay sông ngà choàng ánh dịu

                            Ánh trăng xanh lả lướt mạn thuyền ca

                Và âm điệu thì thơ Tố Hữu rất trong trẻo và rất dễ dãi. Có thứ thơ hay mà khúc khuỷu, và có thứ thơ chỉ hay ở chỗ dễ dãi, trong trẻo như dòng nước chảy xuôi trên mảnh kính pha lê, thơ Tố Hữu vào lối thứ hai này:

                            Tiếng bầu lan nhẹ tiếng ấp sóng ngân nga,

                            Hồn ca kỹ trong dòng trôi ríu ríu…

                            Ta bâng khuâng nghe gió bỗng vô tình

                            Rơi trong bóng hàng dương vờn ánh ngã.

                            Trên bến cỏ tiếng chuông tù lả tả,

                            Tan dần trong lạnh lẽo vướng chân thành.

                Nếu tìm những câu thơ để chứng thực cho âm điệu của thơ Tố Hữu thì khó lựa. Vì bài nào cũng thế, cũng dịu dàng và trong trẻo. Có khi âm thanh lên rất cao hoặc xuống rất thấp nhưng không khi nào khúc khuỷu, gắt gao. Bây giờ ta nhìn đến hình ảnh:

                            Với gió bấc đi về rét mướt

                            Nương chuối già nghe lạnh lẽo rùng mình.

                            Vài chim quen thưa thớt ở đầu cành

                            Còn lưu luyến ngày tàn trong nắng yếu.

                Đấy, hình ảnh của mùa thu tàn tạ với cơn gió bấc đi về, với những cái rùng mình của vườn chuối, với những con chim thưa thớt đầu cành, với nắng yếu

                            Tìm chi em trong sương chiều thất thểu,

                            Chẳng ngại ngùng e lạnh của ngày đông.

                            Chờ chi em mà vơ vẩn buồn trông,

                            Cây xơ xác chìa tay khô gầy gõ.

                            Mùa thu qua, qua hết những tình thương,

                            Mà tim em khao khát lượm trên đường!

                            Rồi đây lạnh, đây mưa và lặng lẽ,

                            Em sẽ biết mình em trong vắng tẻ.

                            Còn ai đâu ái ngại đứng nhìn em,

                            Còn ai đâu buông nhẹ một lời êm?...

                Một đứa trẻ bơ vơ, lạc loài, trơ trọi, thiếu tất cả, khao khát cho đến mảnh tình thương lượm mót trên đường!...

                Không cần ngâm nhiều hơn nữa. Bởi vì như thế ta đã ngâm hầu hết các bài thơ Tố Hữu. Từng ấy cũng đủ tỏ rằng Tố Hữu có một căn bản nghệ thuật vững vàng lắm. Những đức tính của thơ kết chặt với nhau trong một khối. Một khối chữ tuyệt diệu, màu sắc tươi như thiên nhiên, âm thanh làm rung động cả lòng người, vì hình ảnh hoạt động ít ai hơn được” [6]...

    Khác biệt với phần đông lối viết sau này thường nhấn mạnh nội dung tư tưởng rồi mới đến bình phẩm nghệ thuật, hai cây bút phê bình sau khi phân tích đặc tính hình thức nghệ thuật rồi mới đến xác định nội dung tư tưởng, chủ đề, chủ điểm:

    “Tôi đã khen thơ Tố Hữu nhiều lắm. Nhưng chưa hết đâu! Trên kia mới chỉ đứng về phương diện nghệ thuật thuần túy. Mà nghệ thuật của Tố Hữu không chỉ là cái nghệ thuật hẹp hòi, không phải là cái nghệ thuật thuần túy luẩn quẩn trong phạm vi chữ, màu sắc, âm thanh. Không, Tố Hữu là một chàng thanh niên của tương lai. Chàng thanh niên ấy ham sống và sống một cách dồi dào. Chàng đuổi theo một lý tưởng. Thơ chàng là cả một nguồn sinh lực đem phụng sự cho lý tưởng. Chàng có phải cái tội là quá ham sống và nhất là quá tin ở sức mạnh thanh niên:

                            Xuân bước nhẹ trên nhành non lá mới,

                            Bạn đời ơi vui chút với trời hồng!

                            Vườn cây hoa là bởi có tay trồng.

                            Đêm chẳng tối là bởi người đem ánh…

                            … Kiêu hãnh chút bạn đời ơi! Tuổi trẻ,

                            Say tương lai là tuổi của anh hùng!

                            Ai mai kia sẽ tạo lập đời chung?

                            Ai hiện tại đủ tài năng lay đổ.

                            Cả chế độ hung tàn gây thống khổ,

                            Và tị hiềm và gian ác tham lam?

                            Chỉ ta thôi, là tuổi trẻ siêu phàm,

                            Với sức mạnh nặng nề thay thế giới!

                Chàng thanh niên, trong khi hăng hái chỉ biết có thanh niên là lực lượng chính trong công cuộc «nặng nề thay thế giới» mà quên những lực lượng khác. Nhưng không sao! Mối kiêu hãnh có thể hoàn toàn hiểu được và tha thứ được trong tâm hồn nhà thi sĩ đang bồng bột. Lòng bồng bột kia chỉ có cái đức tính làm cho thanh niên khác hăng hái theo mình.

                Bao nhiêu những cái có thể làm cho người ta chán nản lại là những cớ để cho chàng thanh niên của tôi hăng hái sống:

                            Thì vui chút cho hồn thêm nhựa mạnh,

                            Gân thêm săn và máu bạn thêm nồng!

                            Đời lạt mùi và đau đớn không công,

                            Là để việc cho thời xuân chẳng tẻ!…

                            … Nuôi đi em cho đến lớn đến già,

                            Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu.

                            Để thêm nóng, mai kia hồn chiến đấu,

                            Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng!

                Trong xã hội, Tố Hữu đã có một lập trường rồi, chàng đã cáu giận loài “buôn máu xương” và đã hô hào những bà mẹ, những bà vợ Nhật, Đức, Ý:

                            Các bà không bom đạn

                            Diệt loài buôn máu xương

                            Thì sao không ngăn cản

                            Binh lính với tình thương?

                            Sao không bảo chồng con:

                            “Về thôi! Quay mũi súng

                            Bắn chết cho kinh hồn

                            Cả một phường lợi dụng?”

                Mối uất hận ghê gớm đã làm cho Tố Hữu ta nắm tay lại, hung hăng:

                            Một đứa trẻ ngang tàng nuôi mộng lớn

                            Mơ sương say và chuộng những màu tươi

                            Giữa vườn hoa kiêu hãnh nhếch môi cười

                            Với cổ thụ, vung diều con táo tợn:

                            “Mày phải chết…”.

                Nhà thơ chiến sĩ đã biết rõ trong cuộc đấu tranh, tranh đấu là động cơ của sự thắng lợi:

                            Nhưng người sống bởi trời xuân tạnh ráo:

                            Lấy kết đoàn xóa hẳn cảnh bi ai.

                            Lấy tiếng reo của muôn người phấn đấu,

                            Phá bất bình mưu sống cho ngày mai![6]…

    Như vậy là hai cây bút phê bình đã đi tới xác định chất thơ Tố Hữu gắn với nguồn sáng của tương lai, “tính lý tưởng”, “sinh lực đem phụng sự cho lý tưởng”, đức hy sinh và tinh thần tranh đấu cho ngày mai. Không chỉ có ca ngợi một chiều, hai cây bút phê bình tiếp tục soát xét, chỉ ra hạn chế của thơ Tố Hữu từ tầm nhìn và yêu cầu của đoàn thể cách mạng:

                “Tuy vậy, sự tin tưởng ở cuộc tranh đấu, ở tình đoàn kết vẫn chưa cực kỳ lộ rõ trong tác phẩm của Tố Hữu. Tố Hữu còn nhìn tới cá nhân nhiều quá. Hình như Tố Hữu cứ nghĩ rằng cá nhân là trung tâm điểm của vũ trụ:

                            Đời lạt mùi và đau đớn không công

                            Là để việc cho thời xuân chẳng tẻ!

                Tố Hữu lại luôn nói:

                            Cho tôi hưởng tinh thần hăng chiến đấu,

                            Cho da tôi dày dạn với ngày mai.

                            Cho tôi hiến đến cuối cùng suối máu,

                            Để nhuộm hồng bao cảnh xám bi ai.

                Nhưng Tố Hữu lại thường quên ngoại cuộc, quên bao nhiêu bạn cùng hàng ngũ với mình, quên rằng con người ta chỉ là một thành phần của xã hội, mà trong cuộc tranh đấu, không thể đứng riêng ra, mà phải đứng cùng với anh em, chỉ đứng với anh em, chỉ diễn tả được lực lượng và tinh thần chung thì mới càng mau cấu tạo cá nhân của mình, chỉ có thế nguồn thơ mới dồi dào, phong phú” [6]...

                Đến đoạn kết, hai cây bút phê bình khẳng định vị thế và nhấn mạnh ý nghĩa tính chiến đấu “khí giới mới”, sức mạnh vị nhân sinh, năng lực dẫn đường “hút lấy tư tưởng” của nhà thơ cách mạng trẻ tuổi Tố Hữu: “Với Tố Hữu, chúng ta đã có một nhà thơ cách mạng có tài. Lần đầu tiên trong lịch sử văn hóa ta đó. Nhà thi sĩ ấy còn trẻ lắm. Cuộc chiến đấu đã làm dày dạn tâm hồn anh, đã đem kinh nghiệm lại cho anh, sẽ hiến cho anh những khí giới mới để đem lại cho ta nhiều quân binh hiện giờ đang say vì âm điệu thơ Tố Hữu, nhưng chưa hút lấy tư tưởng của Tố Hữu, vì tư tưởng ấy chưa được hun đúc vững như đồng và sáng như chân lý” [6]…

    Ba năm sau, Lương Đức Thiệp trong Việt Nam thi ca luận đã định danh nguồn sáng chủ trương, xu hướng, trường phái và chứng dẫn thơ Tố Hữu: “Trái chiều với xu hướng lãng mạn, một chủ trương tả chân xã hội về thi ca cũng vùng dậy. Xu hướng này lôi kéo mấy thi sĩ cấp tiến theo kiểu Jean Cassou[2]. Tố Hữu đại diện cho phái này, định đưa thơ đi một con đường khác con đường xưa nay của thơ:

    … Em sẽ cùng tôi đi bốn phương,

                             Lâng lâng cất giọng hát vang lừng.

                             Ngờ đâu giông tố dường như đã,

    Giam hãm thân tôi giữa bốn tường…

    … Đường đi đó, nhổ sào lên tôi lái,

    Chiếc thuyền tôi vui lướt giữa muôn thuyền.

    Nào cần chi biển rộng bình yên,

    Hay ghê gớm nổi cồn cao sóng dữ;

    Tôi cứ lái cho tới ngày mệt lử,

    Một chiều kia, tôi cũng lại như anh,

    Tôi về đây trong mạn ván tan tành,

    Giữa lúc ấy những thuyền kia lướt tới.

    Đấy mới là những ý nghĩ đem gửi vào câu văn, chứ chưa phải là mối xúc cảm thuần nhiên. Về mặt nghệ thuật, chủ trương này chưa đem lại cho chúng ta được một tác phẩm nào có giá trị vĩnh viễn” [11]    

    3. Đặt trong bối cảnh đời sống sáng tác thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu có bài thơ Dửng dưng thể hiện như một tuyên ngôn phản ánh quan niệm nghệ thuật và như một sự đối thoại với Thơ mới. Vấn đề đặt ra là có phải Tố Hữu viết bài thơ Dửng dưng với ngụ ý bày tỏ thái độ của một nhà thơ cách mạng, nhà thơ chiến sĩ "vị nhân sinh" đối thoại lại quan niệm của một nhà thơ "vị nghệ thuật" Nam Trân (1907-1967), tác giả tập thơ Huế, Đẹp và Thơ? Về nội dung, tôi tin rằng có chuyện này nhưng lại khó tin về cách làm, đối tượng, phạm vi, mục đích cũng như thời gian người viết bài thơ đối thoại. Vấn đề đặt ra là Tố Hữu chủ ý muốn họa lại cả tập Huế, Đẹp và Thơ hay chỉ phản biện với một bài cụ thể, hoặc với một số bài nào đó?...

    Bài thơ Dửng dưng của Tố Hữu được viết tại Huế vào tháng 5-1938 với lời tựa đề "Tặng tác giả Huế, Đẹp và Thơ".

                Du khách bảo đây vườn kín đáo

                Với hương dìu dịu, ý ngàn xưa

                Trời mây xanh nhạt màu hư ảo

                Đây xứ mơ màng, đây xứ thơ...

                Cô gái thẫn thờ vê áo mỏng

                Nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai

                Ven bờ sông phẳng con đò mộng

                Lả lướt đi về trong gió mai...

                Thành quách trăm năm sầm mặt lạnh

                Ngọn cờ uể oải vật vờ bay

                Lâu đài đường bệ màu kiêu hãnh

                Áo gấm hài nhung cánh phượng bay.

                Ta nện gót trên đường phố Huế

                Dửng dưng không một cảm tình chi!

                Không gian sặc sụa mùi ô uế

                Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi...

                Ý chết đã phơi vàng héo úa

                Mùa thu lá sắp rụng trên đường

                Mơ chi ảo mộng ngàn xưa nữa?

                Cây hết thời xanh đến tiết vàng!

                Ai tưởng ngàn năm nương đất ấy

                Mầm non thêm nhựa, lá thêm tươi

                Ôi mỉa mai! hồn ta chỉ thấy

                Rêu hèn sống gửi nhánh khô thôi.

                Ai tưởng thiên đường sao nhấp nhánh

                Tài hoa tinh kết, ngọc long lanh

                Ta chỉ thấy nơi đây mồ lạnh

                Chôn linh hồn đắm đuối hư danh [5, tr.60-61].

    Xét theo lời tác giả in đầu tập Huế, Đẹp và Thơ đã ghi rõ: "Hầu hết thảy những bài trong tập thơ này đã đăng trong các báo chí: An Nam tạp chí, Văn học tạp chí, Tràng An báo, Phong Hóa, Sông Hương, Tiên tiến (Sa Đéc), v.v... Nay chúng tôi góp in thành tập đầu để tặng các bạn gần xa. Gọi là để tỏ chút lòng thành của chúng tôi đối với thi ca nước nhà - Huế, ngày 10 Décembre 1938" và bìa cuối sách có chú thích cụ thể: "Sách này in xong ngày 15 Février 1939 tại nhà in Trung Bắc tân văn, 107, phố Hàng Buồm, Hà Nội, sách in ra 1000 cuốn bằng giấy Bouffant và 5 cuốn bằng giấy Vergé baroque, đánh số từ I đến V"... Như vậy thật khó có chuyện Tố Hữu viết Dửng dưng vào tháng 5-1938 để phản biện lại tập Huế, Đẹp và Thơ ra mắt bạn đọc sau đó gần một năm trời [9, tr.12]...

    Như đã nói trên, có thể tin vào câu chuyện nhà thơ "vị nhân sinh" muốn đối thoại với một nhà thơ "vị nghệ thuật". Tuy nhiên, không nên coi các nhà thơ có ý thức tôn vinh "nghệ thuật vị nghệ thuật" về hình thức, hoặc có sáng tác coi trọng tinh thần "vị nghệ thuật" là xa rời cuộc sống và nâng cấp thành những nhóm, phái, trào lưu. Chỉ cần đọc Văn chương và hành động của nhóm tác giả Hoài Thanh - Lê Tràng Kiều - Lưu Trọng Lư (1936) là đủ rõ. Trên thực tế, họ vẫn chú ý đến cuộc sống và nhận ra những mặt trái của xã hội, vẫn kêu gọi con người tham gia vào cuộc tranh đấu "vị nhân sinh" theo cách thức của mình. Với thi sĩ Nam Trân, bài thơ Giận khúc Nam ai trong tập Huế, Đẹp và Thơ là một minh chứng:

                            Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác,

                            Hãy đứng lên, Nhạc sĩ, với tôi, đi!

                            Tôi ghét anh mê giọng hát sầu bi

                            Và tung mãi tấm hồn thừa trụy lạc.

                            Hãy đứng dậy! Vứt chiếc cầm ảo não!

                            Tôi cần nghe những khúc nhạc rất hùng

                            - Thét ngựa lòng phi mãi chẳng chồn chân-

                            Sáng như gươm tuốt, mạnh như luồng bão.

                            Ôi Nhạc sĩ, thật anh người thậm tệ:

                            Quan hoài chi những lối hát mê ly,

                            Những câu ca không Đẹp lại không Thi

                            Của kỹ nữ vọc cuộc đời ê chệ?

                            Hãy cung kính phượng các ngài tuổi tác

                            Những bản đờn, nhịp hát thiếu tinh thần.

                            Hãy ra nghe sóng vỗ, ngắm mây vần

                            Rồi sáng chế cho tôi vài điệu khác [12, tr.41-42].

    Nhận thức về điều này, nhà phê bình Hoàng Thiếu Sơn trong tiểu luận Cải tạo tinh thần thi ca cũng nhấn mạnh đặc điểm nội dung hai dòng thơ, trong đó đặc biệt đề cao tinh thần tự ý thức tiếng nói tranh đấu, nhập cuộc xã hội qua dẫn chứng điển hình từ bài thơ Giận khúc Nam ai của chính Nam Trân: Đó đây thỉnh thoảng cũng ngân lên đôi tiếng reo hùng tráng. Nhưng tìm đâu thấy, thật tìm đâu thấy mầu son đỏ của “ngọn quang minh”, mùi “chính khí” của “chén tân khổ”.

                                        Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác,

                                        Hãy đứng lên, nhạc sĩ với tôi, đi!

                                        Tôi ghét anh mê giọng hát sầu bi,

                                        Và tung mãi tâm hồn thừa trụy lạc…                              

                Một nhà thơ mới “Giận khúc Nam ai” đã vô tình lên án tất cả những người đồng điệu (Nam Trân, Huế - Đẹp và Thơ). Thơ mới của chúng ta ngày nay cũng chẳng khác nào một khúc Nam ai “mê ly”, “sầu bi” và “ảo não”. Giữa lúc tinh thần quốc gia đang được cải tạo, chúng ta cũng phải cải tạo tinh thần văn học” [10, tr.12].

                Thực tế nói trên cho thấy sự tương đồng trong nhận thức xã hội và quan niệm thơ ca tranh đấu, - kể cả cách thức đánh giá về lối thơ mới lãng mạn mê ly, sầu bi, ảo não - giữa Nam Trân và Tố Hữu. Từ đây có thể xác định Tố Hữu viết bài thơ Dửng dưng không phải nhằm đối thoại, phản ứng với toàn bộ tập Huế, Đẹp và Thơ của Nam Trân mà chính là nhà thơ cách mạng Tố Hữu bày tỏ sự đồng cảm với nhà thơ đàn anh, nhấn mạnh việc thơ ca cần chú trọng nhiều hơn tới thực tại, tới đời sống dân chúng và nhiệm vụ đấu tranh xã hội. Sau này Nam Trân chuyển hóa tham gia cách mạng, trở thành nhà Hán học, nhà giáo, người góp công đầu trong việc dịch Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

                4. Lời kết

                Trên tất cả, so với phong trào Thơ mới 1932-1945 thì những sáng tác đương thời của Tố Hữu thuộc loại “bên lề” nhưng đã đứng về số đông những người lao động cùng khổ, bày tỏ sự phê phán bất công và lên tiếng tranh đấu cho một ngày mai tươi sáng. Thơ Tố Hữu thời kỳ trước Cách mạng đã nhận được sự đồng cảm của người đọc đương thời, trở thành nguồn cội của dòng thơ vị nhân sinh và cuộc đấu tranh xã hội, giải phóng dân tộc. Từ vị thế “bên lề”, thơ Tố Hữu đã chuyển thành trung tâm của nền thơ vô sản, “cánh chim đầu đàn của nền thơ Cách mạng”, lời hiệu triệu và tiếng nói chân thực cho mỗi giai đoạn lịch sử dân tộc, đất nước ở chặng đường nửa sau thế kỷ XX.

    NHS.

    www.trieuxuan.info

    ___

    Tài liệu tham khảo

    [1] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Sưu tập, 2000), Báo Dân chúng 1938-1939. Nxb. Lao động, H.

    [2] Phác Căn (1938), Một khuynh hướng mới trong làng thơ. Dân chúng (Cơ quan của lao động và dân chúng Đông Dương) (Sài Gòn), số 13, ra ngày 13-9.

    [3] Tố Hữu (1938), Mồ côi, Dân (Huế), số 10, ra ngày 6-9.

    [4] Tố Hữu (1938), Vú em, Dân (Huế), số 11, ra ngày 9-9.

    [5] Tố Hữu (1959), Từ ấy. In lần thứ hai (Đặng Thai Mai giới thiệu). Nxb Văn học, H.

    [6] K và T (1939), “Tố Hữu – nhà thơ của tương lai”, Mới, số 1, tháng 5.

    [7] Nguyễn Văn Long (2004), “Tố Hữu”, Từ điển văn học (Bộ mới). Nxb. Thế giới, H.

    [8] Nguyễn Văn Long (2004), “Từ ấy”, Từ điển văn học (Bộ mới). Nxb. Thế giới, H.

    [9] La Nguyễn Hữu Sơn (2020), “Tố Hữu với Dửng dưng (Tặng tác giả Huế - Đẹp và thơ)”. Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, số 583, ra ngày 27-2.

    [10] Hoàng Thiếu Sơn (1944), “Cải tạo tinh thần thi ca”, Tri tân tạp chí, số 146, ra ngày 15-6.

    [11] Lương Đức Thiệp (1942), Việt Nam thi ca luận. Khuê Văn xuất bản cục, H.               

    [12] Nam Trân (1939), Huế, Đẹp và Thơ. Trung Bắc tân văn Xb, H.

     

    [1] K. và T: Bút danh ký tắt của hai nhà báo cách mạng Lưu Quý Kỳ (1919-1982) và Trần Đình Tri (1915-1997).

    [2] Jean Cassou (1897-1986): Văn, dịch giả Pháp. Từng bị Gestapo bắt. Nổi tiếng với tập thơ viết trong tù  Trente-trois sonnets composés au secret (33 bài sonnet sáng tác trong bí mật) (1944).

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,062

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/