Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,341,615

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Trên đường tiếp nhận Truyện Kiều

Nguyễn Hữu Sơn

  • Thứ bảy, 17:22 Ngày 10/10/2020
  • Trên đường tiếp nhận Truyện Kiều

    Kỷ niệm 255 năm ngày sinh (1765-2020) và tưởng niệm 200 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du (1820-2020), báo Người Hà Nội trân trọng giới thiệu chuyên đề “Trên đường tiếp nhận Truyện Kiều” của PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học). Chuyên đề gồm 6 nội dung, hy vọng sẽ góp thêm những tư liệu mới cũng như góc nhìn thú vị về “Truyện Kiều” – một kiệt tác của nền văn học dân tộc. - Người Hà Nội.

    Kỳ 1. Từ “Truyện Kiều”, tìm đọc “Kim Vân Kiều truyện

    Tôi quê ở xứ rừng Mai Sưu, phía Tây Yên Tử, thế mà từ nhỏ đã được nghe các bác và mẹ tôi bàn luận về “Truyện Kiều”. Nhớ mãi bác tôi dẫn giải câu thơ “Sẵn Quan Âm các vườn ta,/ Có cây trăm thước có hoa bốn mùa”, thì “cây trăm thước” đây không phải là cây thật, cũng không phải mượn ý trong kinh Phật “Bồ đề bách xích thụ” (Bồ đề cao trăm thước) mà ý nói khói cây hương trong chùa tỏa cao trăm thước. Chẳng biết có đúng không nhưng tôi chưa đọc thấy cách giải thích nào như thế…

    Năm 1983 thuộc thiên kỷ trước, tôi về công tác ở Viện Văn học. Từ bấy giờ mới có dịp đọc hết cả “Truyện Kiều” và dần dà đọc các công trình nghiên cứu. Lại đến cuối tháng 11/ 1989 mới được theo dự Hội thảo khoa học “Qui hoạch, giữ gìn, tôn tạo và phát huy khu di tích Nguyễn Du” tại thành phố Vinh, khi ấy còn thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh. Lại nhớ lần ấy có các cụ Huy Cận, Đỗ Văn Hỷ, Trần Lê Văn, Phạm Tú Châu… Xe chạy từ 6 giờ sáng mà sẩm tối mới tới Vinh. Nhớ lắm. Ca sĩ trẻ Hồng Năm ríu rít bên nhà thơ Huy Cận. Khi lên ngâm thơ trích đoạn “Truyện Kiều” mới thấu rõ thần thái nghệ sĩ, một Hồng Năm khác hẳn: “Cỏ non xanh tận chân trời…”.

    Đọc “Truyện Kiều”, chẳng hiểu sao tôi cứ canh cánh muốn tìm xem bản gốc tiểu thuyết chương hồi “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) mà Nguyễn Du dựa vào vốn như thế nào. Mãi rồi tôi cũng biết được “Kim Vân Kiều truyện” đã từng có bản dịch của Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung (1925. Tái bản, 1928 - 1929 và 2006), bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm (1971. Tái bản, 1991, 1999). Riêng bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh đã được dịch và in rôneo từ 1962, lưu trữ trong kho tư liệu dịch ở thư viện Viện Văn học. Nghe nói ngày ấy đã có ý định xuất bản, nhất là dịp kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (1765-1965) ở cả trong nước và tầm Hội đồng hòa bình thế giới, thế nhưng có ai đó lại chỉ đạo không nên in, cho rằng in ra thì “Truyện Kiều” mình thất thế lắm.

    Lại nói sau chuyến dự hội thảo về Nguyễn Du ở Vinh (1989), tôi mượn bản in rôneo “Kim Vân Kiều truyện” do hai bậc túc nho Nguyễn Khắc Hanh và Nguyễn Đức Vân dịch, thấy thú quá mới thuê đánh máy lại toàn bộ, có thêm các chú giải tên người, địa danh, câu chữ, nghĩ rằng sớm muộn thế nào cũng tìm cách in được. Nhân đọc tham luận “Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch” của bậc thầy Phạm Tú Châu (đại khái nói rằng nhà nghiên cứu Đổng Văn Thành (Trung Quốc) đã hiểu sai khi so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều” bởi đã dựa theo bản dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Trung (1959) vướng nhiều chi tiết sai lệch của Hoàng Dật Cầu), tôi càng nung nấu viết bài nghiên cứu so sánh theo hướng của mình. Đại thể, tôi nhấn mạnh rằng những sự kiện, chi tiết được coi là "rườm rà" thực chất lại là đặc điểm và thế mạnh riêng của “Kim Vân Kiều truyện”. Những sự kiện, chi tiết đó chính là thuộc tính, yêu cầu và sức mạnh của lối văn xuôi tự sự vốn thiên về tả thực, được trình bày theo tuyến tính biên niên sử của tiểu thuyết chương hồi. Thử hỏi nếu lại lược bỏ đi những sự kiện, chi tiết cụ thể thì thử hỏi thiên tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” này còn lại những gì? Dẫn giải như thế để thấy rõ hơn tính hợp lý của những chi tiết, sự kiện được thể hiện trong “Kim Vân Kiều truyện” và nó chỉ được coi là "rườm rà", “dài dòng” khi đặt trong tương quan với “Truyện Kiều” và nhìn từ đặc trưng nghệ thuật “Truyện Kiều”. Trên thực tế, nếu sự so sánh chỉ coi trọng tư duy văn xuôi tự sự, coi trọng tuyến cốt truyện, sự kiện, nhân vật, chi tiết và "Nguyễn Du đã in dấu ý thức chủ quan của mình cho một số nhân vật, làm tổn hại sự hoàn chỉnh và thống nhất về tính cách của những nhân vật ấy ở mức độ nhất định" thì tất yếu sẽ dẫn đến cách nhìn đơn giản hóa “Truyện Kiều” như nhà nghiên cứu Đổng Văn Thành (1986). Ngược lại, nếu bình điểm, qui chiếu “Truyện Kiều” bằng thước đo nội dung trữ tình và từ đặc trưng nghệ thuật thể loại truyện thơ thì lại thật khó xác định đúng mức giá trị tự thân của tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện”. Trên tinh thần chung, tôi nhấn mạnh giá trị kiệt tác “Truyện Kiều” nhưng xác định khi so sánh thì cần nhận rõ đặc điểm, ý nghĩa riêng biệt của mỗi tác phẩm chứ không nhằm so đo hơn kém.

    Lại nói về tập bản thảo “Kim Vân Kiều truyện”, sau này tôi chỉnh lý nhan đề thành “Truyện Kim Vân Kiều” cho được Việt hóa (!), thêm lời giới thiệu và đưa in ở Nhà xuất bản Hải Phòng (1994. Tái bản 1999). Trong lời giới thiệu, sau những dẫn giải về nhân vật, cốt truyện từ các sách “Minh sử liệt truyện”, “Minh sử kỷ bản mạt”, “Trù Hải đồ biên”, “Kiến chỉ biên đến hý khúc Thu hổ khâu” của Vương Lung, “Hổ phách thi” của Diệp Trĩ Phỉ, hý kịch “Song Thúy viên” của Hạ Bỉnh Hoành, trải qua “Vương Thúy Kiều sự tích” của Mao Khôn, “Vương Thúy Kiều truyện” của Dư Hoài rồi hoàn chỉnh ở “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (1521 - 1593)…

    Vấn đề đặt ra ở đây là khi so sánh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du với “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân trên tất cả mọi phương diện như về cốt truyện, hệ thống nhân vật, nội dung xã hội, màu sắc triết lý, các phân đoạn và thứ tự biến động của các chi tiết, tình tiết... đều thấy sự khác biệt là không đáng kể. Quả thực, ở “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có giản lược tên một số nhân vật phụ. Chẳng hạn nói về nhà họ Chung chỉ nêu:

    “Họ Chung có kẻ lại già,/ Cũng trong nha dịch lại là từ tâm” thì trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân có giới thiệu rõ người đó là Chung Sự, có con trai là Chung Cần, con gái là Tô Nương. Song sự khác biệt đó không làm thay đổi cốt truyện, cũng không phải là dấu hiệu sự khác biệt trong lý tưởng thẩm mỹ giữa Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân.

    Chính vì lẽ đó mà cách giải thích việc Nguyễn Du không mô tả chi tiết sự kiện Tú Bà truyền dạy “bảy chữ tám nghề” cho nàng Kiều, hay đoạn trừng phạt bọn Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Ưng, Khuyển một cách tàn khốc là bởi thi hào đã lược bỏ đi những đoạn miêu tả có tính chất tự nhiên chủ nghĩa và có hại đối với mỹ cảm của người đọc... rõ ràng chưa thật thuyết phục, chưa tính đến đặc trưng về mặt thể loại khi so sánh giữa hai tác phẩm thuộc về hai phương thức thể hiện khác biệt nhau. Đương nhiên trong cách nhìn của người hiện đại và nhìn theo một hướng nhất định thì sự mô tả những chi tiết cụ thể đó thường bị quy là thiếu mỹ cảm song nếu xét trên phương diện tư duy nghệ thuật thì chúng lại hết sức có ý nghĩa, nhất là khi đặt chúng trong tương quan với nền văn học dưới thời phong kiến vốn hết sức kiêng kỵ những đề tài “thấp”, trần trụi, bản năng và hướng về cái cao thượng, sùng bái những biểu tượng, điển cố, lối diễn đạt từ chương thanh nhã… Ở đây, khả năng thẩm thấu qua tấm màng lọc mỹ học Nho giáo, khả năng tái tạo hiện thực, phản ánh đời sống trần tục, hướng về đời thường là ưu thế của tác phẩm văn xuôi tự sự cần được lưu ý khi xem xét “Kim Vân Kiều truyện”. Điều quan trọng hơn, chính vì “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân thuộc về thể tài văn xuôi tự sự thiên về mô tả sự kiện, nó có điều kiện đi sâu miêu tả thực tại, khắc họa chân dung nhân vật một cách cụ thể, chi tiết hơn qua việc phối hợp các hình thức đối thoại - kể chuyện - phân tích tâm lý một cách tương đối tự do, linh động. Còn đối với “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được thể hiện bằng văn vần, toàn bộ câu chuyện được tái hiện bằng ngôn ngữ thơ, vừa thông qua cảm xúc chuyển dịch của chủ quan nhà thơ trên cơ sở một tác phẩm cũ, vừa liên kết, xây dựng văn bản mới với nguồn mạch cảm hứng trữ tình có nhiều thay đổi, đồng thời lại vừa phải tuân theo quy luật vần điệu, nhạc tính, hình ảnh và thể cách của thể thơ lục bát. Chính sự khác biệt này đã góp phần quy định việc Nguyễn Du lược bỏ những chi tiết dài dòng và tái hiện toàn bộ nội dung đó theo hướng chọn lọc, bay bổng, giàu hình ảnh, nhạc điệu, phù hợp với đặc trưng tư duy của thơ ca.

    Ngay dưới thời trung đại, “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân đã được dịch và lưu truyền ở Mãn Châu, Nhật Bản, Việt Nam theo nhiều phương thức khác nhau. Từ thực tế tiếp cận “Truyện Kiều”, tôi cho rằng một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã không chú ý đầy đủ tới văn bản nguồn gốc, còn những ý kiến kiểu Đổng Văn Thành lại chỉ so sánh trên phương diện nội dung và các tín hiệu nghệ thuật chung nhất. Những ý kiến này  không chú ý tới sự khác biệt đặc trưng thể loại, không chú ý đầy đủ tới tâm lý tiếp nhận của dân tộc Việt Nam đối với ngôn ngữ “Truyện Kiều” và hồn thơ tiếng Việt, với thể thơ lục bát truyền thống. Đồng thời không lý giải được thực tế vì sao “Truyện Kiều” lại phổ biến tới khắp mọi miền quê, vừa là lời ru vừa trở thành một loại kinh sách để có thể bói Kiều, tập Kiều, lảy Kiều và thực sự là một kiệt tác.

    Kỳ 2. BÀN VỀ VĂN BẢN TRUYỆN KIỀU

                Tham vọng về một văn bản Truyện Kiều (các bản Nôm thường ghi Kim Vân Kiều tân truyện, Kim Vân Kiều tân tập, Đoạn trường tân thanh) đạt tới định hướng “chuẩn mực”, “tầm nguyên”, “hướng về nguyên tác”, “hướng tới phục nguyên”, “được đồng thuận cao” đã được đặt ra với hầu hết các nhà khảo cứu, soạn sách, in sách, kể từ các bản Nôm khắc ván, chép tay cũng như việc xác định bản trục và các bản phiên âm Quốc ngữ và việc khảo dị, khảo chứng, chú thích…

                Vấn đề đặt ra là cần xác định, đánh giá đúng diễn biến và thực trạng tình hình nghiên cứu, xác lập văn bản Truyện Kiều từ trước đến nay, từ đó mới có thể định hướng xây dựng được một bản Truyện Kiều khả dĩ dựa trên nền tảng khoa học của bộ môn văn bản học và “được đồng thuận cao”…

                Thực trạng hoạt động khảo cứu và xuất bản Truyện Kiều từ trước đến nay cần được nhận thức, xem xét ở hai dạng thức: văn bản chữ Nôm và văn bản phiên âm chữ Quốc ngữ.

                 Trước hết nói về nguồn thư tịch Truyện Kiều chữ Nôm cần đặc biệt chú ý tới hiện trạng không còn bản gốc, thủ bút, nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hơn nữa, bản Nôm có niên đại sớm nhất (mặc dù bị thiếu khuyết đến 864 câu, chỉ còn 2390/3254 câu), được nhà Liễu Văn Đường khắc in năm Tự Đức thứ 19, Bính Dần (1866), cách năm Nguyễn Du qua đời đến 46 năm, ngót nửa thế kỷ, khiến cho hoạt động san khắc sau này ngày một phức tạp.

                Thực tế cho thấy không phải bản Nôm có niên đại khắc in sớm nhất đã là quý nhất, giá trị nhất, gần với nguyên tác nhất, bởi lẽ có bản dù được khắc in sớm nhưng lại dựa vào bản gốc có niên đại muộn, dung chứa nhiều sự sai lạc, trong khi bản khắc in sau có khả năng lại dựa vào bản gốc có niên đại sớm hơn, gần nguyên tác hơn? Trên cơ sở các bản Truyện Kiều Nôm hiện còn, tôi cho rằng cần dứt khoát trở lại với các bản Nôm cổ, định dạng ngay trong thế kỷ XIX. Điều này cũng có nghĩa rằng giới Kiều học đã thẩm định và xác định các bản Truyện Kiều Nôm xuất hiện vào thế kỷ XX không mấy giá trị, chỉ là sự sao chép, san khắc, nhuận sắc, nhuận chính, tái bản từ các nguồn văn bản thế kỷ XIX mà thôi. Nhìn lại diễn tiến lịch sử và diện mạo các bản Nôm Truyện Kiều có thể thấy khá rõ sự phân loại theo từng hệ phái, từng dòng như “bản phường”, “bản Kinh”, “bản Tiên Điền”, “bản Liễu Văn Đường”, “bản Quan Văn Đường”, “bản Duy Minh Thị”… Trên nền tảng từng dòng văn bản này có thể chọn lọc, xác định được bản trục và hệ thống các bản khảo dị nhằm đạt tới một văn bản Truyện Kiều Nôm “hướng về nguyên tác”, “phục nguyên”, “được đồng thuận cao”…

                Về cơ bản, các nhà Kiều học cũng đã xác định rõ, phần lớn các bản phiên âm Truyện Kiều chữ Quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 thường chỉ căn cứ trên một bản Nôm, tức là phiên âm độc bản, có được bản Nôm nào thì phiên theo bản đó. Đây là hoạt động phiên dịch trong tình thế khi chưa sưu tập được nhiều bản Nôm và khoa văn bản học cũng chưa phát triển để lập trình bản trục cùng các bản khảo dị và chú giải…

                Có một điều quan trọng cần ghi nhận, trong khi phiên âm theo lối “độc bản” thì các nhà Kiều học giai đoạn trước 1945 đã giải quyết được tương đối triệt để vấn đề chữ nghĩa trong từng bản Truyện Kiều Nôm, chưa kể đến thế hệ tiền bối này còn gắn bó, thấm đậm văn hóa Nho giáo, chữ Hán, am hiểu cả cách đọc Nôm và thi ca truyền thống. Chính nhờ thành quả của lớp cha anh đó mà thế hệ các nhà Kiều học sau này có thể kế tục phiên âm, khảo dị, chú giải Truyện Kiều một cách thuận lợi. Trong chừng mực nhất định, các bản phiên âm Truyện Kiều giai đoạn trước 1945 đã tự trở thành cổ điển, một loại thư tịch không thể thiếu được trong hoạt động nghiên cứu, phiên âm, khảo dị, chú giải Truyện Kiều.

                Do hoàn cảnh lịch sử qui định, trong khoảng thời gian 1945-1975 hầu như không có tiến bộ rõ rệt nào về việc công bố và khảo cứu chuyên sâu văn bản Truyện Kiều Nôm. Mặt khác, cũng do điều kiện kỹ thuật in còn hạn chế, hình thức ảnh ấn còn xa lạ nên ngay cả khi có được văn bản mới thì thường vẫn chỉ là những mô tả, thông tin thiếu cụ thể, chính xác. Trên cả hai miền, đóng góp lớn nhất về việc khảo cứu văn bản Truyện Kiều Nôm phải kể đến công trình Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh được xuất bản vào cận kề giai đoạn cuối (NXB KHXH, Hà Nội, 1974)…

                Kể từ thời đất nước Đổi mới (1986) đến nay, hoạt động sưu tầm, khảo cứu, giới thiệu văn bản Truyện Kiều Nôm đạt được những tiến bộ vượt bậc nhưng cũng tạo nên hệ lụy “loạn Truyện Kiều”. Nhiều văn bản cổ thuộc thế kỷ XIX trước kia chỉ “nghe nói” thì nay đã được ảnh ấn trọn vẹn bên cạnh phần phiên âm, khảo dị, chú giải (các bản Liễu Văn Đường 1871, Duy Minh Thị 1872, Thịnh Mỹ Đường 1879 và Quan Văn Đường 1879…); đồng thời phát hiện, công bố thêm nhiều văn bản mới (Liễu Văn Đường 1866, Thiếu Tô Lâm 1870, chép tay ở thư viện Anh 1894…). Hoạt động  kiểm kê, tổng kết, phát hiện, bổ sung, hệ thống hóa và giới thiệu một cách tương đối đầy đủ các bản Truyện Kiều phiên âm (có kèm theo ảnh ấn nguyên bản Nôm) đã tạo nên sinh khí mới cho bộ môn Kiều học.

                Bên cạnh việc tái bản các văn bản Truyện Kiều Quốc ngữ trước 1945 (Bùi Khánh Diễn, Phạm Kim Chi, Nguyễn Can Mộng, Tản Đà, Lê Văn Hòe, Hồ Đắc Hàm, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim…), hoạt động xuất bản Truyện Kiều thời Đổi mới diễn ra chủ yếu theo 3 phương cách sau đây: 1) Tầm nguyên, “hướng về nguyên tác”, “phục nguyên”, tức là tạo lập một văn bản Truyện Kiều Quốc ngữ mới dựa trên nhiều bản Nôm khác nhau (Vũ Văn Kính, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Nho Thìn – Nguyễn Tuấn Cường, Phạm Đức Huân, Hội Kiều học…); 2) Phiên âm, chú giải chuyên biệt về từng bản Truyện Kiều Nôm (Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Thế Anh, Nguyễn Bá Triệu, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Khắc Bảo…). Đi theo hướng giải quyết dứt điểm từng văn bản Truyện Kiều Nôm, Nguyễn Tài Cẩn có ba công trình chuyên sâu: Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872 (2002), Tư liệu Truyện Kiều: Từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu (2004), Tư liệu Truyện Kiều: Thử tìm hiểu bản sơ thảo Đoạn trường tân thanh (2008)…; 3) Đan xen cả hai cách và tạo dựng văn bản mới trên cơ sở tổ hợp các bản Truyện Kiều Quốc ngữ (Nguyễn Khắc Bảo, Lê Quế, Mai Quốc Liên, Đỗ Minh Xuân…)… Thực tế cho thấy, tùy thuộc vào nhận thức và phương cách xử lý văn bản Truyện Kiều Nôm cũng như cách thức ứng xử với các bản phiên âm Quốc ngữ của người đi trước sẽ dẫn đến hiệu quả và chất lượng các văn bản Truyện Kiều mới xuất bản gần đây.

                Gắn liền với không khí “trăm hoa đua nở” trong việc xuất bản Truyện Kiều gần đây lại là tình trạng “loạn Truyện Kiều” và sự xuất hiện không ít nhà văn bản học “tay ngang” (còn chưa phân biệt rõ “bản gốc” – photo, “nguyên bản” – biên soạn). Xin dẫn hai hiện tượng. Thứ nhất, nhà thơ Vương Trọng nghiêm khắc góp ý: “Những năm gần đây, tác phẩm của Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều được xuất bản khá rầm rộ. Ngoài việc tái bản các công trình của các học giả thời trước, nhiều soạn giả mới cũng xuất hiện và cho xuất bản Truyện Kiều của mình. Nếu như cách đây dăm chục năm, tìm được một quyển Kiều để đọc là một việc khó khăn, thì giờ đây, vào hiệu sách nào ta cũng gặp, tha hồ chọn lựa. Trước hết, đó là điều may mắn cho bạn đọc về mặt số lượng. Còn chất lượng thì sao? Công trình của một số soạn giả mới xuất hiện những năm gần đây chất lượng còn thật hạn chế, dễ làm bạn đọc hiểu sai lệch về nhiều câu, nhiều ý trong Truyện kiều. Tác phẩm So sánh dị bản Truyện Kiều của soạn giả Lê Quế, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2006 là một quyển sách như thế” (Nguồn: Xin đừng hiệu đính Truyện Kiều như thế. vnca.cand.com.vn › doi-song-van-hoa, 14/07/2008)… Thứ hai, tập sách Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng cũng phải nhận sự chỉ trích mạnh mẽ từ nhà văn Nguyễn Quang Thân: “Tự cho chữ của mình “hay hơn Nguyễn Du” để lấy lý do đó “sửa” hàng ngàn từ Truyện Kiều như Đỗ Minh Xuân đã làm là xúc phạm tiền nhân […]. Tôi có thể không ngạc nhiên mấy về hành động của ông Đỗ Minh Xuân hay ông Vũ Khiêu, nhưng tôi vẫn nghi ngờ, không tin nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin lại xuất bản một cuốn sách như thế. Biết đâu đây là một hành động “mạo danh”, in chui dưới cái tên của nhà xuất bản này” (Nguồn: Sửa hơn 1.000 đơn vị từ của Truyện Kiều: Một hành động vô đạo! khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, 28 thg 2, 2015)

                Trên thực tế, sau Đào Duy Anh (1974), khoa văn bản học Truyện Kiều hầu như không có thêm thành tựu đột xuất nào. Trước hết, căn bản dung lượng Truyện Kiều (3254 câu thơ) không thay đổi. Khác chăng chủ yếu ở một số cách phiên âm khác nhau, không làm thay đổi diện mạo Truyện Kiều, kể cả có người muốn làm cuộc “cách mạng” mà thực chất lại làm gia tăng tình trạng nhiễu loạn văn bản Truyện Kiều.

                 Những năm gần đây đã và rồi sẽ còn có thêm nhiều bản Truyện Kiều phiên âm Quốc ngữ khác nữa. Vấn đề quan trọng nhất là cần phải có cách xử lý, lựa chọn, hiệu chỉnh văn bản Nôm một cách chuẩn mực, dựa trên căn bản các phương pháp và thao tác của khoa văn bản học. Do những yêu cầu khác nhau của người đọc Truyện Kiều mà việc xuất bản sẽ có những cách thức ứng xử phù hợp (in văn bản phiên âm kèm theo nguyên văn một bản chữ Nôm, hoặc in văn bản phiên âm theo bản trục có bản khảo dị kèm theo ảnh ấn bản trục, hoặc chỉ in phần phiên âm phục vụ đại chúng mà không cần thêm bản chữ Nôm…).

                Thay cho lời kết, xin dẫn lại đôi dòng về quan niệm văn bản, phương pháp phiên âm và định hướng nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: “Nói chung, chúng tôi luôn luôn cố gắng phiên âm theo sát mặt chữ, chỉ những trường hợp thật chắc sai chúng tôi mới chữa. Còn những trường hợp chúng tôi chỉ mới cảm thấy băn khoăn về mặt ý nghĩa của câu của chữ thì chúng tôi vẫn tôn trọng văn bản. Những trường hợp này, nếu xét thấy cần điều chỉnh lại thì chúng tôi xin dành quyền đó cho giới nghiên cứu sau này sẽ làm chứ chúng tôi ít khi dám tự tiện tiến hành trước... Mục đích của chúng tôi khi xuất bản cuốn sách này là phổ biến cho anh chị em trong nước biết về bản Nôm Duy Minh Thị, vì hiện chỉ còn một hai bản lưu trữ ở nước ngoài. Có bản Nôm đó trong tay thì giới nghiên cứu sẽ tự rút ra được những kết luận cần thiết” (Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr.398)...

    Bài 3. ÔNG ĐỔNG SO SÁNH TRUYỆN KIỀUKIM VÂN KIỀU TRUYỆN

                Quá trình tìm hiểu kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã đạt nhiều thành tựu, trong đó hướng nghiên cứu so sánh đã có lịch sử lâu dài và ngày càng trở nên quan trọng. Vấn đề nghiên cứu so sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không chỉ là mối quan tâm của giới nghiên cứu mà đã thu hút cả dư luận xã hội - đặc biệt với việc viết sách giáo khoa và định hướng nhận thức, cảm thụ, giảng dạy trong nhà trường - đồng thời đã nâng cấp thành đối tượng tìm hiểu, khảo sát chuyên sâu và mở rộng thành các cuộc tranh luận có ý nghĩa khu vực và quốc tế.

    Đã qua trên ba mươi năm kể từ ngày ông Đổng Văn Thành viết “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” in trên Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng (1986-1987) và bản dịch này cũng đã được công bố rộng rãi ở Việt Nam. Trước vấn đề khoa học “nhạy cảm” này, học giới chúng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh học thuật, đủ năng lực và trình độ để thảo luận một cách công khai, dân chủ với Đổng tiên sinh qua các bài trao đổi của các học giả Phạm Tú Châu (1989, 1997), Hoàng Văn Lâu (1998), Nguyễn Khắc Phi (1999)… Ở đây chúng tôi tập trung nhấn mạnh những hạn chế trong việc so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện của ông Đổng trên hai phương diện chính: Cần một quan điểm so sánh văn học đúng hướng – Cần đọc hiểu ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều

                Đáng chú ý là sau khi xuất hiện loạt bài của nhà nghiên cứu Đổng Văn Thành (Trung Quốc) đã khiến nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam lên tiếng tranh luận mạnh mẽ; đồng thời tiến hành so sánh bản dịch ra Trung văn với nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du và chỉ rõ những bất cập trong thao tác nghiên cứu của ông Đổng. Ngược trở lại, vượt qua cách suy luận một chiều, cực đoan nhà thơ Trần Mạnh Hảo muốn coi tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện chỉ là "bộ xương", "hình nhân bằng đất sét", đến nay chúng ta đã hội đủ điều kiện tri thức khoa học và sự bình tĩnh để nâng cấp trình độ nghiên cứu so sánh Truyện Kiều Kim Vân Kiều truyện lên một tầm cao mới. Định hướng chung là cần thiết coi trọng khảo sát văn bản trên tinh thần khoa học, từng bước tiếp cận đúng những cống hiến đích thực, những phương diện khác nhau cộng hưởng làm nên thiên tài nghệ thuật Nguyễn Du; chủ động đặt tương quan văn học này trong cội nguồn dòng chảy truyện thơ Nôm và trong quĩ đạo văn học truyền thống dân tộc; đồng thời đi sâu lý giải chân giá trị và đặc trưng mỗi kiểu loại tác phẩm cũng như mối quan hệ ảnh hưởng - giao lưu văn hóa, đặt trong quá trình phát triển tư duy văn học ở phạm vi khu vực và có tính chất toàn thế giới. Đó cũng là mặt bằng, định hướng và triển vọng của tình hình nghiên cứu so sánh Truyện Kiều Kim Vân Kiều truyện hiện nay.

                Khi đặt vấn đề so sánh Truyện Kiều (tác phẩm sinh sau) so với cốt truyện nguồn Kim Vân Kiều truyện, ông Đổng Văn Thành cũng như bất cứ một nhà nghiên cứu nào khác đều cần xác định mục đích của việc so sánh (chỉ ra vị thế và tương quan giữa hai tác phẩm; nhấn mạnh vai trò và kiểu thức “người môi giới” văn học, xét đoán các chuyển động về tư duy nghệ thuật và khả năng sáng tạo ở tác phẩm thứ phát…). Tiếc rằng ông Đổng lại không đi sâu khai thác các nội dung trên mà chủ yếu nhằm chứng minh, định giá sự hơn – kém giữa hai tác phẩm một cách chủ quan, cơ giới.

                Thực tế lịch sử tiếp nhận hai tác phẩm ở hai nước đã diễn ra theo những vectơ khác biệt, thậm chí có phần ngược chiều nhau. Đúng như Đổng tiên sinh đã cảm nhận với cách đặt nhan đề ở mục I- Hai tác phẩm cùng tên có số phận khác nhau và ghi nhận Truyện Kiều là “một truyện thơ nổi tiếng thế giới”, “viên ngọc sáng của văn học phương Đông”, được yêu thích và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, đồng thời thừa nhận: “Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Tiệp và nhiều tiếng nước khác, trở thành một tác phẩm văn học phương Đông có ảnh hưởng trên thế giới”; trong khi đó nguyên tác Kim Vân Kiều truyện ở ngay nơi sinh lại bị lãng quên, xem thường xem khinh: “Ngoảnh đầu nhìn tiểu thuyết Truyện Kim Vân Kiều của Trung Quốc, số phận của nó cũng như số phận Vương Thúy Kiều – nhân vật chính trong truyện, bấy lâu nay đã bị đối xử rất không công bằng (…). Cuốn sách hầu như bị sổ toẹt, từ đó tiếng xấu lan xa trong ngoài nước”...

                Quan sát và nhìn ra hiện tượng số phận Truyện Kim Vân Kiều ở hai nước nhưng ông Đổng lại chủ ý lược qui toàn bộ giá trị và mức độ phổ biến của tác phẩm ở Việt Nam về cốt truyện và nhân vật theo bản nguồn “hình tượng Vương Thúy Kiều của Trung Quốc được dân chúng Việt Nam đồng tình và yêu mến sâu sắc”... Điều này cũng có nghĩa rằng ông Đổng chưa quan tâm, chưa đi sâu lý giải thực chất vấn đề về khả năng Việt hóa, sáng tạo, chuyển hóa, phái sinh, tái sinh, phát triển, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức nghệ thuật từ Kim Vân Kiều truyện đến Truyện Kiều và phổ văn hóa Truyện Kiều ở Việt Nam. Mặt khác, trên thực tế chỉ có giới nghiên cứu mới quan tâm, còn tuyệt đại nhân dân Việt Nam không hề biết đến “hình tượng Vương Thúy Kiều của Trung Quốc” và họ yêu mến Thúy Kiều chỉ bởi đã đọc, hiểu và yêu thích một Truyện Kiều của Nguyễn Du.

                Khi đặt vấn đề trong phần II- So sánh nhân vật và cốt truyện, ông Đổng lại chỉ căn cứ vào đoạn tóm tắt tiểu thuyết Truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc, 1983) và ý kiến học giả Hoàng Dật Cầu trong lời giới thiệu bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Trung (1959) để đi đến kết luận hầu như là thúc vào cánh cửa đã mở sẵn: “Sau khi đối chiếu qua lại như trên chúng tôi có được một kết luận rõ ràng, dễ thấy, đó là nhân vật chính cùng tình tiết cốt truyện ở hai bộ Truyện Kiều của Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn giống nhau, kể cả kết cấu tự sự cũng không có chút thay đổi”… Sự khác biệt quan trọng ở đây là, trong khi ông Đổng mới dừng lại ở việc so sánh một cách cơ giới vấn đề kết cấu, cốt truyện, nhân vật thì hầu hết các nhà nghiên cứu Việt Nam và giới Kiều học còn mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nữa thuộc về tâm lý sáng tạo, nội dung và nghệ thuật kiệt tác Truyện Kiều. Trên thực tế, rất tiếc rằng ông lại chưa tiếp xúc được với khối lượng khổng lồ tài liệu tiếng Việt nghiên cứu Truyện Kiều, càng chưa nói đến việc đọc, cảm thụ Truyện Kiều tiếng Việt. Đặt trong tương quan chung, đúng như ông Đổng xác nhận về một nghịch lý, tác phẩm Truyện Kiều sinh sau đến 160 năm lại có sức sống và lan tỏa khắp bốn phương, góp phần thức tỉnh và hồi sinh ngược trở lại bản gốc. Thực tế nói trên cho thấy đã diễn ra hai quá trình so sánh: lấy Truyện Kiều để so sánh với nguyên tác Kim Vân Kiều truyện và lấy Kim Vân Kiều truyện để so sánh với bản dịch Trung văn Truyện Kiều (đáng lẽ phải là Truyện Kiều tiếng Việt)… Đây là thách thức không phải chỉ bởi thiên kiến tình cảm mà căn bản bởi những nguyên tắc khoa học của bộ môn so sánh văn học đặt ra, cần được coi trọng và tuân thủ.

                Những thiên kiến, định kiến và cả hạn chế trong việc tiếp nhận Truyện Kiều đã khiến ông Đổng không đánh giá đúng tính chất năng sản và giá trị của tác phẩm này khi so sánh với Kim Vân Kiều truyện. Đặt trong tương quan chung, lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều cho thấy đây là giá trị đích thực chứ không phải chỉ đơn giản là “sự may mắn của Nguyễn Du”. Rồi ngay cả khi ông Đổng nhiệt thành kêu gọi: “Tiểu thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân cần được đánh giá lại, ảnh hưởng quan trọng của nó trong lịch sử văn học Trung Quốc và lịch sử văn học thế giới cần được thừa nhận và đánh giá công bằng” thì số phận tác phẩm vẫn không thay đổi được bao nhiêu. Thêm nữa, Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân được dịch in khá sớm ở Việt Nam (1925) nhưng trước sau vẫn chỉ được xếp loại “thường thường bậc trung”, vậy thôi... Thêm nữa, việc dịch tác phẩm văn xuôi thường vẫn thông thuận hơn thơ ca, vậy mà Truyện Kiều vẫn được dịch nhiều và ngày càng tỏa sáng trên văn đàn thế giới, trong khi tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện vẫn không có được sự chú ý cần thiết.

                Không chỉ sai lầm từ xuất phát điểm của mục đích nghiên cứu so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện, ông Đổng Văn Thành còn gặp một hạn chế không thể vượt qua là chỉ tiếp xúc với Truyện Kiều bản dịch tiếng Trung mà không đọc được bản tiếng Việt.

                Như nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu đã chỉ ra trong bài Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch về những điểm bất cập (1989), kể từ hiểu sai đến chuyển tải sai ý thơ trong bản in của Hoàng Dật Cầu (1959) và khoảng cách tất yếu của tất cả các bản dịch so với nguyên tác. Ở đây chưa bàn đến niềm kính trọng và sự biết ơn to lớn của Phạm Tú Châu và mọi người Việt Nam nói chung trước việc Hoàng Dật Cầu dịch Truyện Kiều sang tiếng Trung mà chỉ giới hạn ở thực tế chất lượng bản dịch, và quan trọng hơn, cái cách mà người đi sau đã dựa vào bản dịch này để thực hành các thao tác so sánh. Đương nhiên việc dịch, đặc biệt với dịch thơ, chỉ có thể chuyển tải được ý thơ, tứ thơ mà không thể dịch được cái thần của chữ, nét vi diệu của nghĩa ẩn trong chữ, và càng không thể chuyển tải được những tình điệu sắc thái tu từ, âm điệu, nhịp điệu, tiết tấu, âm hưởng câu thơ. Nói như thế để thấy rằng ông Đổng, cũng như những người đọc Truyện Kiều gián tiếp qua bản dịch, chỉ có thể nắm bắt được tương đối một phần nghĩa lý nào đó mà không thể hiểu được đầy đủ tác phẩm gốc và sẽ dẫn đến những so sánh đơn giản, cơ giới, phiến diện, một chiều. Chính vì lẽ đó mà việc ông Đổng mở rộng khảo sát, so sánh, phân tích và nhận diện những sai dị khi đối sánh bản dịch Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện hầu như chỉ có ý nghĩa cho việc nhuận sắc, đính chính bản dịch chứ không soi sáng được thực chất giá trị thi phẩm.

                Xét về tổng thể, ai cũng biết rằng toàn bộ Truyện Kiều là sự rút gọn và biến đổi ít nhiều cốt truyện Kim Vân Kiều truyện. Từ thực tế tiếp cận Truyện Kiều nói trên tôi cho rằng một số các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa chú ý đầy đủ tới văn bản nguồn gốc, còn những ý kiến kiểu Đổng Văn Thành lại chỉ so sánh trên phương diện nội dung và các tín hiệu nghệ thuật chung nhất mà không chú ý tới sự chuyển đổi loại hình và khác biệt đặc trưng thể loại, không chú ý đầy đủ tới tâm lý tiếp nhận của dân tộc Việt Nam đối với ngôn ngữ Truyện Kiều và hồn thơ tiếng Việt. Vấn đề cốt yếu nhất, có thể nói thay vì so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện, ông Đổng lại đi so sánh bản dịch Trung văn Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện, khiến cho sự sai lầm càng đi xa hơn. Nhìn rộng ra, phương hướng nghiên cứu so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện vẫn tiếp tục là một đề tài hấp dẫn ở phía trước.

    Kỳ 4. NHỮNG NGẢ ĐƯỜNG TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU                        

    Đồng thời với việc tiếp tục truy tầm, phát hiện văn bản Nôm và phiên âm chữ Quốc ngữ, hoạt động tiếp nhận Truyện Kiều ở Việt Nam đã có quá trình lịch sử lâu dài và ngày càng phát triển. Tinh thần tiếp nhận ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát tất cả các định hướng nghiên cứu, chuyên luận, giáo trình, sách giáo khoa, giới thiệu, trao đổi và mở rộng các lĩnh vực sáng tác phái sinh (tập Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, chuyển thể điện ảnh, kịch, tuồng, chèo, cải lương, tranh minh họa, truyện tranh…).

    Ngay sau khi Truyện Kiều ra đời đã nhận được nhiều nhận xét, bình điểm, liên hệ, so sánh xa gần của các nhà nho đương thời Nguyễn Du và thuộc thế kỷ XIX như Phạm Quý Thích, Vũ Trinh, Nguyễn Lượng, Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân, Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Thị, Minh Mệnh, Nguyễn Văn Thắng, Đào Nguyên Phổ, Chu Mạnh Trinh, Chiêm Vân Thị, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Lê Hoan... Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân cảm nhận về Truyện Kiều vào đúng năm Nguyễn Du ra đi với tất cả sự đồng cảm, thán phục: “Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn Bạc mệnh gảy xong mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải… Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy” (Bài tựa Truyện Kiều, 1820)… Đến như nhà tài tử hào hoa Nguyễn Công Trứ lại nặng lời xét đoán, mở ra những cách tiếp nhận khác biệt, thậm chí trái ngược nhau: Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,/ Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!/ Bán mình trong bấy nhiêu năm,/ Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai!/ Nghĩ đời mà ngán cho đời! (Vịnh Thúy Kiều)

    Chuyển sang thời hiện đại, có thể chia lịch sử tiếp nhận, nghiên cứu Truyện Kiều theo ba chặng đường.

    Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám với tên tuổi những Lê Thước, Phạm Quỳnh, Hoa Bằng, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trương Tửu... Những ý kiến của các nhà nghiên cứu này thiên về xác định "lai lịch", "nguồn gốc", thiên về quan sát hình thức, so sánh cốt truyện, cấu trúc chương đoạn và nhận diện tổng quát. Trên thực tế có thể xác định học giả Đào Duy Anh là người đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu so sánh một cách tương đối hệ thống, khách quan, theo xu thế khoa học hiện đại qua công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943). Trong công trình này, Đào Duy Anh tóm tắt cốt truyện và nội dung chi tiết 20 hồi của thiên tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện đối sánh với Truyện Kiều (chia thành ba phần theo thứ tự 3 chương - 6 chương - 4 chương và trong mỗi chương này lại chia từ 2 đến 5 mục nhỏ). Phù hợp với cách so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện trong thế đối sánh về kết cấu, Đào Duy Anh nêu lên những nhận xét hữu lý: "So sánh hai bản cương yếu trên, ta thấy Nguyễn Du giữ nguyên sự tích của tiểu thuyết Tàu, hầu như không thêm bớt chút gì… Song nguyên văn thì tự thuật rườm rà, tỉ mỉ, kết cấu theo một trật tự dễ dàng đơn giản, mà Nguyễn Du thì châm chước và sắp đặt lại thành một tổ chức có giàn giá chặt chịa, có mạch lạc khít khao" (Sđd, tr.60)...

    Giai đoạn từ 1945 Tám đến 1975 với đóng góp của Bùi Kỷ, Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Đặng Thanh Lê, Xuân Diệu, Vũ Hạnh, Trần Quang Huy... Từ nhiều phương diện khác nhau như sưu tầm tư liệu, dịch thuật, khảo sát so sánh các cấp độ nội dung tư tưởng, hệ thống nhân vật, cảm hứng chủ đạo..., các nhà nghiên cứu đã xác định rõ hơn giá trị kiệt tác Truyện Kiều. Có một thực tế, giới nghiên cứu phía Bắc thiên về khảo sát nội dung tư tưởng và ý nghĩa đấu tranh xã hội thì học giả phía Nam thiên về vận dụng lý thuyết phương Tây để khảo sát vị thế con người cá nhân, kiếm tìm tự do, màu sắc hiện sinh… Có thể nhấn mạnh ý nghĩa khoa học của tập sách Đọc lại Truyện Kiều (1966) của Vũ Hạnh và chuyên luận Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970) của Lê Đình Kỵ…

     Giai đoạn từ sau 1975 đến nay với nhiều kiến giải mới mẻ của Đặng Thanh Lê, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Tài Cẩn, Phạm Đan Quế, Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân... Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Truyện Kiều giai đoạn cuối thế kỷ XX đến nay đã ngày càng tự ý thức rõ hơn cả đối tượng, phạm vi, phương pháp và mục đích so sánh, luận bình. Ở đây có thể kể đến 4 công trình nghiên cứu tiêu biểu theo những quan niệm và định hướng tiếp cận khác nhau. Chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc đặt cược vào lý thuyết phong cách nhằm xác định những cái nhất, độc đáo về tư tưởng nghệ thuật, biện chứng tâm lý, đặc sắc ngôn từ, tuy có phần tư biện. Với Trần Đình Sử, khởi đầu từ tiểu luận Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du (1981), Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1983), tiến đến Thi pháp Truyện Kiều (2001) đã mở ra cả một tư trào và trở thành bài tập mẫu cho nghiên cứu thi pháp ở Việt Nam. Đến Nguyễn Du đại thi hào dân tộc (1996) của Phạm Công Thiện là hành trình truy tìm triết học nhân sinh qua thân xác chữ, quan hệ giữa chữ - văn bản và tác phẩm. Tiếp đến Thả một bè lau (2005) của Nhất Hạnh lại nhìn sâu vào triết lý Truyện Kiều từ cảm quan Phật giáo, sự tương hợp, giác ngộ và tỉnh thức của tuệ giác: Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao – Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời - Ở không an ổn, ngồi không vững vàng – Một mình mình mình biết, một mình mình hay

    Bên cạnh các cách tiếp cận tác gia Nguyễn Du và Truyền Kiều khác nhau tùy theo trình độ, mục đích, yêu cầu thì việc nhận diện tác phẩm trong tương quan định hướng so sánh chắc chắn sẽ hữu ích trong hoạt động nghiên cứu, phổ biến, giảng dạy và học tập. Ở đây có sự phân cấp cho những người yêu thích và mới làm quen với Truyền Kiều, chỉ cần đọc hiểu Truyện Kiều trong văn mạch dân tộc. Sự hiểu biết tương quan Truyện Kiều ở tầm khu vực và thế giới giúp độc giả đại chúng thêm hiểu biết về truyền thống văn chương dân tộc. Ở tầm mức chuyên sâu, các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, mở rộng chiều kích so sánh giữa các tác phẩm đồng loại hình truyện thơ để thấy rõ hơn các giá trị nội dung và nghệ thuật Truyện Kiều trong biểu đồ phát triển chung của nền văn học toàn thế giới

                Trên căn bản của giải thích học và sự thay đổi, cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới đã đưa đến những cách hình dung mới, nhận thức mới về giá trị kiệt tác Truyện Kiều. Thêm nữa, di sản Truyện Kiều còn tiếp tục tỏa sáng ở khả năng kích thích sáng tạo, phái sinh, mở đường cho nhiều thể loại, loại hình và bộ môn nghệ thuật khác nữa…

    Kỳ 5. SO SÁNH TRUYỆN KIỀU - TỪ KHU VỰC ĐẾN THẾ GIỚI

                Trong tổng thể tiến trình tiếp nhận, nghiên cứu kiệt tác Truyện Kiều từ nhiều góc độ, phương pháp, cách thức khác nhau thì riêng định hướng nghiên cứu so sánh lại đòi hỏi nguồn tư liệu mới, hệ qui chiếu mới, bao gồm cả những so sánh trực tiếp và tương đồng trên nhiều cấp độ nội dung và nghệ thuật, loại hình, thể loại, cốt truyện, nhân vật ở tầm khu vực và thế giới. Cần chú ý rằng việc nghiên cứu đối sánh Truyện Kiều – Kim Vân Kiều truyện và hoá giải điểm nóng Đổng Văn Thành mới chỉ là một phần trong tổng thành lịch sử so sánh xoay quanh Truyện Kiều đã kịp thời được các học giả Việt Nam trao đổi, phê bình đúng mức.

    Biết rằng Truyện Kiều có cốt truyện ngoại lai nhưng ngay từ khi ra đời đến nay đã thường xuyên được cảm nhận, tiếp nhận, xác định giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật trong văn mạch dân tộc. Hướng so sánh này tập trung đặt Truyện Kiều trong tiến trình phát triển chung của tiếng Việt, văn tự Nôm, văn phái Hồng Sơn, trào lưu nhân văn thế kỷ XVIII-XIX, thể thơ lục bát truyền thống, thể loại truyện thơ Nôm, các truyện thơ Hoa tiên, Lục Vân Tiên và những ảnh hưởng, tác động tích cực trở lại từ chính Truyện Kiều đến đời sống văn hóa – văn học dân tộc. Từ đương thời, Phong Tuyết Chủ Nhân đã nhấn mạnh vai trò chủ thể tác giả và năng lực nội cảm hoá: “Đem bút mực tả lên trên tờ giấy nào những câu vừa lâm ly, vừa ủy mị, vừa đốn tỏa, vừa giải thư, vẽ hệt ra một người tài mệnh trong mười mấy năm trời, cũng là vì cái lịch duyệt của người ấy có lâm ly, ủy mị, đốn tỏa, giải thư, thì mới có cái văn tả hệt ra như thế vậy” (Bài tựa Truyện Kiều, 1928). Đến giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có nhiều tác giả gọi hồn Truyện Kiều đồng vọng trong điệu hồn dân tộc: Ngạc Am với Truyện Kiều từ cụ Nguyễn Du đến cụ Phạm Quỳnh, cụ Ngô Đức Kế, cụ Hoàng Thúc Kháng (Công luận báo, 2 kỳ, 1934), Xuân Hòa với Nhân cuộc lễ kỷ niệm cụ Đồ Chiểu, tác giả Lục Vân Tiên, ta thử xét Lục Vân Tiên và Đồ Chiểu, Nguyễn Du và Kiều (Hai kỳ. Tiểu thuyết thứ Bảy, 1943); Hữu Nhân với Hoa Tiên với Kim Vân Kiều (Nam Kỳ tuần báo, 1944); Nguyễn Tất Thứ với Từ Hoa Tiên truyện, Mai đình mộng ký đến Đoạn trường tân thanh – Văn phái Hồng Sơn là một con bướm vàng đã dạo qua làn hương phấn của chòm hoa phong dao (Tiểu thuyết thứ Bảy, 1944)... Điều này cho thấy khả năng tiếp nhận, Việt hóa, dân tộc hóa của thiên tài nghệ thuật Nguyễn Du đã sáng tạo nên kiệt tác Truyện Kiều, đưa Truyện Kiều lên vị trí hàng đầu của nền văn học cổ điển Việt Nam.

    Định hướng nghiên cứu so sánh Truyện Kiều trong tương quan khu vực Đông Nam Á và phương Đông thể hiện ở hai phạm vi. Trước hết là những so sánh trực diện Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân chủ yếu có c học giả Việt Nam và Trung Quốc với việc xác định “nguồn gốc văn Kiều”, “cỗi rễ Truyện Kiều”, “từ sự thật đến sáng tạo nghệ thuật”, “chu trình diễn hóa”, “tính khả độc - tính khả tả - tính khả truyền”, “sự chuyển đổi loại hình và thể loại”, “so sánh loại hình lịch sử”… Có thể thấy quan hệ Truyện Kiều – Kim Vân Kiều truyện là tương quan ảnh hưởng trực tiếp, trực diện nên được học giới Việt – Trung (vốn là những người am hiểu nền văn hóa – văn học cổ điển hai nước và có điều kiện thâm nhập văn bản ở cả hai tác phẩm) cùng quan tâm tìm hiểuMở rộng phạm vi so sánh, ngay từ cuối thế kỷ XIX, Truyện Kiều đã được Abel des Michel dịch ra tiếng Pháp và đi sâu phân tích: Truyện thơ này được gợi ý, với những thay đổi đáng kể, từ một tiểu thuyết Trung Hoa, tác phẩm mà nhiều nhà nho An Nam tin là được sáng tác bởi một trong các nhà nho Tài tử (…). Vả chăng, thật dễ để nhận ra lớn lao biết bao nhiêu là sự trau dồi tinh thần của tác giả truyện Túy Kiều trong khi lưu ý rằng thường thường nghĩa của các thành ngữ mà nhà thơ sử dụng thật sự sâu sắc và khơi gợi trong tinh thần giản lược cực kỳ tinh tế” (Lời giới thiệu Truyện Kiều. Tiếng Pháp, 1884)… Thứ hai là việc mở rộng so sánh Truyện Kiều với các tác phẩm cùng loại hình truyện thơ khu vực Đông Nam Á (Tum Tiêu của Campuchia, Xỉn Xay của Lào, Khun Chang Khun Phaen của Thái Lan) và đặt trong bối cảnh căn rễ văn hóa - văn học - xã hội Á Đông (so sánh với Truyện Xuân Hương của Hàn Quốc, với tiểu thuyết phóng tác Kim ngư truyện của Nhật Bản) Điều thú vị là cùng tiếp nhận Kim Vân Kiều truyện nhưng qua ngã rẽ Việt Nam thì Nguyễn Du chuyển hoá thành truyện thơ lục bát 3254 câu, còn sang Nhật Bản được Khúc Đình Mã Cầm (1767-1848) phóng tác thành Kim ngư truyện, nghĩa là giữ nguyên cốt truyện và hình thức văn xuôi, chỉ chuyển dịch sang tiếng Nhật, có gia giảm và Nhật hoá về tên nhân vật, địa danh… Về nghiên cứu Truyện Kiều trong mối quan hệ khu vực, có thể kể từ nghiên cứu đối sánh như Valentin Lý với Truyện Xuân Hương của Triều Tiên và Truyện Kiều của Nguyễn Du (1992), Yang Soo Bae với Bước đầu nghiên cứu so sánh Truyện Kiều và Truyện Xuân Hương (1995), Đoàn Lê Giang với Bước đầu so sánh Kim ngư truyện của Kyokutei Bakin và Truyện Kiều của Nguyễn Du (2016),… đến xem xét tương quan văn học vùng như Trần Nho Thìn với Truyện Kiều và văn hoá phương Đông (2015)… Định hướng chung là cần thiết coi trọng khảo sát, đi sâu lý giải chân giá trị và đặc trưng mỗi kiểu loại tác phẩm cũng như mối quan hệ ảnh hưởng - giao lưu văn hóa, đặt trong quá trình phát triển tư duy văn học ở phạm vi khu vực.

    Mở rộng khảo sát Truyện Kiều trong tương quan văn học thế giới, so sánh với các tác phẩm có tính tương đồng nhưng không có mối liên hệ trực tiếp phát triển gắn liền với quá trình giao lưu, hội nhập và khả năng tiếp nhận các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu so sánh hiện đại. Định hướng liên hệ, so sánh Truyện Kiều với những tác phẩm tương đồng, đồng loại hình thuộc các dân tộc khác nhau, các vùng chân trời địa - văn hóa khác nhau, các nền văn học truyền thống khác biệt nhau được nâng cấp, nhấn mạnh ở các phương diện giá trị tư tưởng nhân văn, chiều sâu triết lý, loại hình và thể loại, mức độ phổ cập và “tầm đón đợi” của độc giả. Có thể kể đến những so sánh tiêu biểu của Truyện Kiều với các tác phẩm Thần khúc của Dante Ý (Lê Trí Viễn 1978 và Nguyễn Văn Hoàn 2009), Hamlet của Shakespeare Anh (Bùi Giáng 1966), Andromaque của Racine (Hoài Thanh 1949 và Nguyễn Thị Hoàng 2011), Le Cid của Pierre Corneille Pháp (Trần Thị Phương Phương 2016), Faust của Goete - Đức (Nguyễn Tri Nguyên), Evgheni Oneghin của Pushkin Nga (Trần Thị Phương Phương 1992 và Hội thảo Hà Tĩnh 2019), v.v…

    Trong tư cách người thưởng thức, bạn đọc hẳn có thể chỉ đọc Truyện Kiều mà không cần biết đến bất kỳ mối liên hệ nào với các truyện thơ Nôm Việt Nam cũng như gốc nguồn Kim Vân Kiều truyện và những tương đồng với nhiều tác phẩm cổ điển Campuchia, Lào, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Anh, Pháp, Đức, Nga… Trong tư cách người nghiên cứu, mối quan hệ giữa Truyện Kiều với các tác phẩm cổ điển Đông - Tây lại đặt ra những vấn đề quan trọng về đặc điểm sự vay mượn cốt truyện và khả năng sáng tạo của Nguyễn Du, về xu thế chuyển hoá từ tiểu thuyết văn xuôi tự sự chương hồi tới truyện thơ Nôm đậm đặc chất trữ tình, về hiện tượng Truyện Kiều đặt trong hệ thống hàng loạt truyện thơ Nôm có nguồn gốc cốt truyện Trung Quốc, về qui luật tiếp nhận và quá trình phát triển của mỗi nền văn học dân tộc, về vị trí Nguyễn Du trong tư cách "người môi giới văn hoá" vốn xuất hiện phổ biến dưới thời trung đại ở khu vực Đông Á cũng như với nhiều nước Âu – Tây... Việc mở rộng nghiên cứu so sánh sẽ góp phần giúp bạn đọc nắm bắt đầy đủ hơn giá trị kiệt tác Truyện Kiều cũng như các mối liên hệ mang tính loại hình và xu thế, qui luật phát triển văn học trên toàn thế giới…

    Kỳ 6: KIỆT TÁC TRUYỆN KIỀU GIAO LƯU, HỘI NHẬP QUỐC TẾ

                Nếu mục đích của nghiên cứu so sánh nhằm đặt Truyện Kiều trong tương quan các tác phẩm xuất sắc trong nước và thế giới theo nhiều hệ hình quy chiếu khác nhau thì việc xác định quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế của Truyện Kiều lại bao gồm cả lịch sử phiên dịch, nghiên cứu, luận bình giá trị thi phẩm với quy mô ngày một chuyên sâu, chuyên nghiệp, phổ cập ở mức cao hơn.

    Ngay từ cuối thế kỷ XIX, Truyện Kiều đã được Abel des Michel dịch ra tiếng Pháp (3 tập, 1884). Điều đáng lưu ý là việc dịch Truyện Kiều sang các thứ tiếng có nhiều nhân duyên khác nhau: có người nước ngoài và người Việt Nam, có người nước ngoài từng ở Việt Nam và có người hoàn thành bản dịch khi chưa đặt chân đến nước Việt, có người trực dịch từ tiếng Việt và có người dịch qua ngôn ngữ khác (chủ yếu từ bản tiếng Pháp). Lại nữa, có người dịch vì ngẫu nhiên được giới thiệu, tiếp xúc với một truyện thơ hay; có người qua gợi ý của nhà chính trị, đồng nghiệp, bạn bè; có bản dịch độc lập, theo sự cộng tác song phương hoặc nhiều người. Thêm nữa, có người dịch Truyện Kiều khi còn rất trẻ, có người hoàn thành bản dịch khi đã mãn chiều xế bóng, có bản dịch in ở Việt Nam và có bản dịch in ở nước ngoài, có bản in đơn ngữ và loại song ngữ.

    Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến nay kiệt tác Truyện Kiều đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng với trên 60 bản dịch khác nhau và xuất bản ở các nước   Anh, Ả Rập, Ba Lan, Bungari, Đức, Hàn Quốc, Hunggari, Hy Lạp, Lào,  Mông Cổ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Phần Lan, Rumani, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thụy Điển, Trung Quốc,... Nhiều thứ tiếng có số bản dịch phong phú: Anh ngữ 18 bản, Pháp 15 bản, Trung Quốc 11 bản, Nhật Bản 5 bản, Nga 2 bản… Đơn cử trường hợp bản dịch sang tiếng Đức Das Mädchen Kiều/ Nàng Kiều của Franz Faber (1917-2013), in lần đầu ở Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức) vào năm 1964 (tái bản vào các năm 1976, 1980, 2000 và in song ngữ Việt - Đức tại Việt Nam năm 2015). Cơ duyên của việc dịch này bắt đầu từ cuối năm 1954 khi Franz Faber sang Việt Nam công tác. Trước ngày ra về, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cuốn Truyện Kiều song ngữ Việt – Pháp kèm theo câu nói tựa như một lời đề nghị, khuyến khích, động viên, hy vọng: “Biết đâu anh có thể làm được một điều gì đó với cuốn sách này”. Về nước, từ một người chưa biết tiếng Việt, ông đã cùng vợ là Irene vừa học tiếng vừa nghiền ngẫm đọc hiểu, qua bảy năm thì hoàn thành việc dịch toàn văn Truyện Kiều… Điều này xác nhận vị thế và sức sống mãnh liệt của Truyện Kiều trong di sản tinh hoa văn học nhân loại và khả năng đồng cảm, lan toả, tiếp nhận sâu rộng trong thế giới hiện đại.

    Bên cạnh hoạt động dịch thuật và nỗ lực giới thiệu, quảng bá của các thế hệ người Việt trong và ngoài nước cần đặc biệt chú ý đến thành tựu nghiên cứu của các nhà Việt học người nước ngoài về Truyện Kiều trong hơn một thế kỷ qua. Nhìn chung, họ là những nhà Việt học uy tín, am hiểu tiếng Việt và nền văn hoá Việt, am hiểu Truyện Kiều và các hiện tượng truyện thơ tương đồng ở phương Đông và thế giới.

    Trên tư cách người dịch Truyện Kiều, Abel des Michels (1833-1918) đã giới thiệu khái lược 5 phương diện so sánh: tương quan Truyện Kiều Kim Vân Kiều, ngôn ngữ Truyện Kiều và ngữ liệu Trung Hoa, chữ Nôm tiếng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ, phổ văn hóa phương Đông của Truyện Kiều và sự khác biệt Âu châu, từ đó nhấn mạnh hiện trạng ẩn dụ ngôn ngữ Truyện Kiều “chúng hoàn toàn đối nghịch với tinh thần các ngôn ngữ châu Âu” (1884)… So sánh hệ thống và trực diện hơn, René Crayssac (1883-1940) trước hết biện luận về vấn đề Nguyễn Du dựa theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân cũng tương tự như Molière soạn hài kịch Người keo lận (L’Avare) lấy từ Aulularia (Truyện cái nồi) của nhà soạn kịch La Mã Plôt; Raxiz soạn kịch cũng lấy truyện của Hy Lạp, La Mã, Do Thái; kịch Coócnây lấy tích từ Tây Ban Nha, La Phôngten bắt chước truyện Esore và đi đến xác định: “Phàm xét văn chương không cần phải xét rằng sự tích là mượn của ngoài hay là tự tác giả đặt ra, chỉ nên xét rằng tác giả kết cấu truyện ấy ra tiếng nước mình có thêm được cái đặc sắc gì không, có hóa theo được cái tinh thần của Tổ quốc mình không. Nay Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thật là có cái tinh thần đặc biệt của nước Nam ở đó”… Đến tiếp tục so sánh và đối sánh các phương diện đạo đức, tôn giáo, tập quán, quan niệm chữ hiếu, hôn nhân, sắc dục, từ đó nhấn mạnh cả những nét tương đồng của thuyết nghiệp báo, nhân quả trong miêu tả nhân vật: “Mã Giám Sinh, gã buôn người, là một nhân vật cũng giống như Letellier hay là Philiberl trong tiểu thuyết Tây, thường ăn mặc chải chuốt điếm đót”; hoặc tương đồng trong ứng xử về đạo hiếu, ái tình và nghĩa vụ: “Không nói gì xa xôi cho lắm, nói ngay về thời đại ông Coócnây, và thử xét các hài kịch của ông xem. Phần nhiều các bài ấy, cốt truyện là thế nào? Là ở Ái tình và Nghĩa vụ xung đột nhau. Chàng Lộ Địch (Rôđrigơ) phải chọn một bên là lòng thương yêu nàng Chí Miên (Simen), một bên là nghĩa báo thù cho cha mình, cũng là bên hiếu bên tình phải quyết xem bên nào nặng hơn, há chẳng phải là anh em đồng bệnh với cô Kiều nước Nam đó dư?”, đồng thời xác định: “Cụ Nguyễn Du có ngọn bút tả cảnh rất tài, trong truyện có vô số những bức tranh nho nhỏ xinh xinh, nét vẽ vừa thanh tao mà vừa diễm lệ. Chỉ mấy nét bút, chỉ vài bốn câu thơ mà vẽ nên phong cảnh rất có khí sắc và rất có cảm tình, giống như lối thơ hai kai của Nhật Bản mà có ý tinh tế hơn… Truyện Kiều thật là một nền quốc văn hoàn toàn của nước Nam. Trong suốt văn chương nước Pháp, dễ không có một tập thơ văn nào phổ thông trong dân gian bằng Truyện Kiều ở nước Nam. Thật không có một người An Nam nào bất cứ sang hay hèn, giàu hay nghèo, mà lại không biết đến Truyện Kiều” (Truyện Kiều và xã hội Á Đông, 1926).

    Nhà Việt Nam học người Nga N.I. Nikulin đi sâu lý giải: “Trong thiên trường ca của Nguyễn Du cũng có những mô-típ định mệnh chủ nghĩa. Theo ý nhà thơ, nguyên nhân đầu mối của những nỗi gian truân của Kiều là chữ mệnh, là cái "karma". Song điều đó không hề cản trở nhà thơ phản ánh một cách hiện thực cuộc sống và tính quy luật của nó. Các lực lượng huyền bí không hề can dự tới quá trình diễn biến của các sự việc trong thiên trường ca, nó chỉ là một phương tiện để tác giả giải thích nguyên nhân các nỗi thống khổ của nàng Kiều. Cách giải thích này chủ quan, võ đoán và không được cuộc sống hiện thực phản ánh trong tác phẩm xác nhận. Vì cũng cùng những sự việc ấy mà nhìn nhận theo một quan điểm khác thì có thể đưa ra một cách giải thích đúng đắn, duy vật. Trung thành với sự thật trong cuộc sống - đó là một thắng lợi lớn của khuynh hướng hiện thực vốn có trong bản chất của thiên trường ca Đoạn trường tân thanh và toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du” (Nguyễn Du - nhà thơ nhân đạo lỗi lạc, 1971) Hơn thế nữa, xúc cảm từ Nguyễn Du và Truyện Kiều, nhiều nhà thơ thế giới đã biết đến Thúy Kiều, làm thơ về Thúy Kiều và Việt Nam với tất cả niềm trân trọng, mến yêu. Đơn cử mấy câu thơ của nhà thơ Hunggari H. Andrasơ (1953-1992): Anh đừng nói: Trời cao/ Xin hãy nói: Màn xanh trùm bể khổ/... Anh đừng nói: Suối vàng/ Xin hãy nói: Tơ đời không thể dứt (Từ những điều Nguyễn Du dạy, 1984)...

    Bước sang thiên kỷ 21, tiếp tục xuất hiện các công trình nghiên cứu về Truyện Kiều mới mẻ của nhiều nhà Việt học trên thế giới như K.C. Leung (Australia), Trần Ích Nguyên (Đài Loan), Yang Soo Bae, Ahn Kyong Hwan, Park Hyun Kyu (Hàn Quốc), Bountheng Souksavatd (Lào), Sonom-Ish Dashtsevel (Mông Cổ), Jaipal Tuttle, John Swensson (Mỹ), V.P. Larin, V.V. Remartruc, M. Tkatrov, A.A. Sokolov, V. Popov (Nga), Kawaguchi Kenichi, Nohira Munehiro, Sato Seiji, Kuroda Yoshiko, Kuroda Yoshiko (Nhật Bản), Alain Guillemin (Pháp), Jan Komárek (Séc), Nhan Bảo, Lưu Chí Cường, Triệu Ngọc Lan,  La Trường Sơn, Lô Uý Thu (Trung Quốc),…  

                Thay cho lời kêt, xin dẫn lại tư liệu và bình luận của nhà nghiên cứu Bùi Mạnh Nhị về tầm vóc quốc tế và ý nghĩa Truyện Kiều trong mối quan hệ Việt - Mỹ: “Trở lại vấn đề Truyện Kiều trong diễn văn của các tổng thống Mỹ, đến nay những người đứng đầu nước Mỹ đã ba lần sử dụng tác phẩm vĩ đại này trong những bối cảnh trân trọng đặc biệt. Lần thứ nhất, trong diễn văn đáp từ của Tổng thống Bill Clinton tại cuộc chiêu đãi trọng thể của Chủ tịch Nước Trần Đức Lương tối 17-11-2000. Lần thứ hai, trong diễn văn của Phó tổng thống Mỹ Joe Binden, thay mặt Tổng thống Barack Obama chủ trì, tại buổi tiệc trưa ngày 7-7-2015 chiêu đãi trọng thể Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn đại biểu Việt Nam tại Nhà Trắng. Và, lần thứ ba, Tổng thống Barack Obama trích dẫn Truyện Kiều trong bài phát biểu trước 2.000 người Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ngày 25-5-2016… Truyện Kiều của Nguyễn Du từ một tác phẩm nghệ thuật đã bước vào vũ đài chính trị (…) để nối con người, nối các dân tộc với nhau” (2018)…

    (còn tiếp)

    NHS.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Bài in 6 kỳ, Người Hà Nội, từ số 36, ra ngày 28/8/2020, tr.8 đến số 40+41, ra ngày 9/10/2020, tr.19.

    Mục lục: 1 2 3

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,341,615

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/