Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,829

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Trên đường tiếp nhận Truyện Kiều

Nguyễn Hữu Sơn

  • Thứ bảy, 17:27 Ngày 10/10/2020
  • Trên đường tiếp nhận Truyện Kiều

    VỀ NGUỒN THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

                Tính cho đến nay các nhà nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn, phiên âm, dịch chú đầy đủ cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du Thanh Hiên thi tập (67 bài), Nam trung tạp ngâm (27 bài), Bắc hành tạp lục (109 bài). Trên thực tế, mỗi tập thơ được viết trong một khoảng thời gian nhất định và nội dung theo sát từng chặng đường đời tác giả.

    Trong giai đoạn đầu sáng tác kéo dài đến những năm ra làm quan với nhà Nguyễn ở Bắc Hà, Nguyễn Du có Thanh Hiên thi tập. Tập thơ bộc lộ nỗi niềm thi nhân trong những tháng năm sống long đong, mất phương hướng, mất lòng tin, thậm chí cả tâm trạng hoang mang, vô vọng với rất nhiều những xót xa về thân phận "chân trời góc bể", "đi khắp chân trời lại đến góc biển", "mối sầu man mác", "một nhánh cỏ bồng đứt gốc trước gió tây", "người đã đến bước đường cùng"... Sống giữa thời buổi loạn ly, Nguyễn Du cảm nhận về cuộc đời thường nhật, về nỗi cửa nhà tan tác, nỗi đơn côi và ý thức về sự vô vị vô nghĩa của đời mình trước thời gian đang qua mau:

                            Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,

                            Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.

                                                                                        (Quỳnh Hải nguyên tiêu)

    (Ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh em tan tác,

                Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau)

                                                                (Đêm rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải)

    Nhiều khi khác là tâm trạng vô vọng, muốn thoát ra khỏi cuộc đời phiền luỵ, tìm đến nơi non xanh thanh tĩnh, mong làm bạn với cỏ cây, mây nước:

                            Hà năng lạc phát qui lâm khứ,

                            Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân.

                                                                            (Tự thán - Kỳ nhị)

                (Ước gì có thể gọt tóc vào rừng,

                Nằm nghe tiếng thông reo lưng chừng mây)

                                                                            (Than thân - Bài 2)

                Dường như với tư chất thi sĩ kiểu Nguyễn Du đã sớm định hình một cách cảm nhận về cuộc đời, sớm ý thức về số phận và sự tồn tại của mỗi thân phận con người trong cõi đời bất định. Nỗi đau đời, thương đời tiếp tục theo đuổi ông trong những ngày ra làm quan và thể hiện bàng bạc trong cả tập thơ Nam trung tạp ngâm. Được làm quan với thường nhân ai kia là cả một dịp vinh thân và cơ may tiến thân. Riêng với Nguyễn Du, ông ngại ngần và cảm nhận nhiều hơn ở phía mặt trái, những hệ luỵ, ràng buộc, mất tự do: "Triều đình có đạo khiến anh phải tròn đạo hiếu", "Không luỵ nên chưa chuốc lấy sự trách móc của quỉ - Bất tài nên hay sợ rước lấy sai lầm trong việc quan", "Khá thương mình đầu bạc vẫn phải chịu để người sai khiến - Không cùng với núi xanh giữ được thủy chung"...; những sự giả dối, tranh chấp, bon chen, đố kỵ chốn quan trường: "Không bệnh mà lưng lom khom", "Phương xa một mình gửi cái thân làm quan - Khi gặp việc bọn đầy tớ, lính hầu đều lên mặt với ta"..., hay sự vọng tưởng về chốn thanh tao, biết rằng mình lỗi hẹn với cỏ cây hoa lá: "Ta cũng muốn từ đây treo mũ áo từ quan mà ra đi", "Rất thẹn cùng trúc đá vì lỗi phụ lời thề", "Trăng núi gió sông dường như có ý đợi chờ", "Hồn ơi, về đi thương cố hương", "Trong giấc mộng tàn canh vẫn mơ về quê hương", "Thẹn mình đã phụ làn mây núi Hồng", "Cúc vàng năm ngoái năm nay lại nở - Vì ta hãy tạ từ với cây tùng tảng đá ở Hồng Sơn"... Hơn nữa, Nguyễn Du làm quan nhưng chẳng giầu có gì nên luôn chạnh lòng thương nhớ những đứa con chịu cảnh đói nghèo nơi quê xa:

                                        Cố hương cung hạn cửu phương nông,

                                        Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng.

                                                                                                                (Ngẫu hứng - Kỳ tứ)

                            (Nơi quê hương nắng hạn lâu ngày, làm hại việc nông,

                            Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau)

                                                                                        (Ngẫu hứng – Bài 4)

                Nguyễn Du nhấn mạnh sự đối lập giữa hôm nay và hôm qua, giữa việc làm quan và cuộc sống tự tại, giữa sự bó buộc và tháng ngày lãng du:

                                        Thử thân dĩ tác phàn lung vật,

                                        Hà xứ trùng tầm hãn mạn du?

                                                                                        (Tân thu ngẫu hứng)

                            (Thân này đã là vật trong lồng rồi,

                            Còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng tự do nữa?)

                                                                                        (Đầu mùa thu ngẫu hứng)

                Đặc biệt khi viết về chiến tranh, ông mừng vui khi đất nước thu về một mối, gián cách ngay cả với những chính - phản, thắng – thua, ta - địch mà đề cao  tinh thần hoà giải, đức hiếu sinh, vẻ đẹp hồn toàn của tạo hoá và cuộc sống thanh bình:

                                        Nam Bắc xa thư khánh đại đồng,

                                        Pháo đài hư thiết thổ thành đông.

                                        Sơn băng thạch liệt thành do tráng,

                                        Hán đoạt Tần tranh sự dĩ không.

                                        Tạc giả đại khuy sinh vật đức,

                                        Nhĩ lai bất quí sát nhân công.

                                        Thanh bình thời tiết vô tranh chiến,

                                        Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông.

                                                                                        (Pháo đài)

    (Nam bắc xe thư, hội đại đồng,

    Pháo đài bỏ trống phía thành đông.

    Đá tan núi lở, thành còn vững,

    Hán cướp Tần tranh việc đã xong.

    Hại vật trước kia đà kém đức,

    Giết người sau chẳng kể là công.

    Thanh bình thời thế không chinh chiến,

    Cày cuốc trâu bò trọng việc nông)

                                                                            (Phan Khắc Khoan và Lê Thước dịch)

                Phải ghi nhận rằng tâm thức Nhĩ lai bất quí sát nhân công (Giờ đây không quí cái công giết người nữa) của Nguyễn Du thật vô cùng siêu việt, hiện đại, đạt đến tầm cao giá trị nhân văn muôn thuở, đạt tới tính Phật, tinh thần yêu chuộng hoà bình của bậc hiền triết, minh triết.

                Tập thơ thứ ba Bắc hành tạp lục, bên cạnh mấy bài thơ viết về Thăng Long thì tất thảy đều viết về chuyến đi sứ Trung Quốc kéo dài qua suốt một năm trời. Tập thơ với số lượng bài lớn, đề tài phong phú, giàu suy tư, có ý nghĩa kết tinh các giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du.

                Sau nhiều năm trở lại Thăng Long, Nguyễn Du xúc cảm về một kinh đô dâu bể, bâng khuâng với thành quách đổi thay, xót thương từ một kiếp ca nhi, một nàng hầu và biết bao người xưa cảnh cũ đã phai bạc dần theo năm tháng. Có thể nói Nguyễn Du đã viết những vần thơ cảm khái về Thăng Long đạt đến độ tuyệt bút, biểu cảm được tấm lòng thi nhân thao thức trong một đêm trăng, trước vô hạn những buồn thương bởi sự chuyển hoá, đổi thay của con người và đất trời:

                                                    Tản Lĩnh, Lô Giang tuế tuế đồng,

                                                    Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.

                                                    Thiên niên cự thất thành quan đạo,

                                                    Nhất phiến tân thành một cố cung.

                                                    Tương thức mỹ nhân khan bão tử,

                                                    Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.

                                                    Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,

                                                    Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.

                                                                                                    (Thăng Long - Kỳ nhất)

                                       

    (Núi Tản sông Lô vẫn núi sông,
    Bạc đầu còn được thấy Thăng Long.
    Nghìn năm cự thất thành quan lộ,
    Một giải tân thành lấp cố cung.
    Người đẹp buổi xưa đều bế trẻ,
    Bạn chơi thưở nhỏ thảy thành ông.
    Thâu đêm chẳng ngủ lòng thêm bận,
    Ðịch thổi trăng trong tiếng não nùng)

    (Quách Tấn dịch)

                Trên hết cả là bài thơ dài Long thành cầm giả ca (Bài ca người gảy đàn ở Long Thành) đã khắc họa sâu sắc những đổi thay của cả một thời và cả một đời người, bày tỏ mối đồng cảm thương người và se sắt nỗi thương thân:

    … Thoảng mấy tiếng, thầm rơi giọt lệ,
    Lọt tai mà như xé tấc son!
    Giật mình hai chục năm tròn,
    Tiệc bên hồ Giám người còn chưa quên.
    Cuộc thương hải tang điền thấm thoắt,
    Cõi nhân gian thành quách đổi dời.
    Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi,
    Mà làng ca vũ một người còn trơ!
    Ngán trăm năm thì giờ chớp mắt,
    Lệ thương tâm ướt vạt áo là.
    Nam về đầu bạc ngẫm ta,
    Trách gì hương phấn bông hoa chẳng tàn!
    Trừng trừng đôi mắt mơ màng,
    Quen mà hoá lạ nghĩ càng thêm thương!

    (Hoàng Tạo dịch)

                Còn lại những bài thơ Nguyễn Du viết trên đường đi sứ được chia thành hai loại: phản ánh đời sống hiện tại, những điều tai nghe mắt thấy và loại đề vịnh lịch sử. Trong tư cách một vị Chánh sứ, Nguyễn Du cũng như bao người đi sứ khác thường nói đến nỗi nhớ nhà, tình cảnh nơi đất khách quê người, những cảnh trí lạ lùng mà lần đầu mình được gặp, được biết, thưởng ngoạn. Song điều khác biệt là ông thường nhạy cảm quan sát,  phản ánh cuộc sống những người dân lao động bình thường như ông cháu người hát rong ở Thái Bình, người kéo xe ở Hồ Nam, thôn xóm bên trạm Tây Hà, thảm trạng những người đói rét và việc binh đao làm nghẽn đường, hình ảnh người mẹ với ba đứa con đói khổ đối lập với bữa tiệc phung phí của đám quan lại và một ý nghĩ bất chợt:

    Thùy nhân tả thử đồ,

     Trì dĩ phụng quân vương.

                                        (Sở kiến hành)

     (Ai vẽ bức tranh này,

     Dâng lên nhà vua rõ)

                            (Những điều trông thấy)

                Trong mảng thơ đề vịnh lịch sử, Nguyễn Du thường bày tỏ rõ tinh thần dân tộc và thái độ phản đối, mỉa mai viên tướng Mã Viện đời nhà Hán: "Cột đồng trụ chỉ có thể lừa đàn bà đất Việt -  Xe ngọc châu rốt cuộc làm luỵ con cái trong nhà - Họ tên chỉ đáng được ghi ở gác Vân Đài - Sao còn ngoảnh mặt về nước Nam sách nhiễu việc cúng tế?" (Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành). Nhìn chung Nguyễn Du am tường nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử Trung Quốc, đặc biệt những nơi còn để lại dấu tích mà ông gặp trên đường. Ông hết lời ca ngợi những danh nhân văn hoá, các bậc trung thần nghĩa sĩ như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Văn Thiên Tường, Hàn Tín và cũng phê phán, khinh bỉ những kẻ xâm lược, gian hùng như Mã Viện, Minh Thành Tổ, Tô Tần, Tần Cối... Trên hết cả, ông không chỉ nêu bài học giáo huấn, tấm gương đạo lý mà nhấn mạnh hơn về những khía cạnh nhân văn, những nỗi niềm thế sự, những buồn vui, còn mất trong một đời người và cũng là chung cho mọi kiếp chúng sinh. Chính vì thế mà ông phê phán quyết liệt hiện thực ngang trái và đồng cảm với Khuất Nguyên, khuyên hồn ông đừng trở về cõi dương gian:

                                                    … Tảo liễm tinh thần phản thái cực,

                                                    Thận vật tái phản linh nhân xi.

                                                    Hậu thế nhân nhân giai Thượng quan,

                                                    Đại địa xứ xứ giai Mịch La.

                                                    Ngư long bất thực, sài hổ thực,

                                                    Hồn hề! Hồn hề! Nại hồn hà?

                                                                                                    (Phản "Chiêu hồn")

                                        (Hãy sớm thu hồn về thái cực,

                                        Chớ về đây nữa người mỉa mai.

                                        Hậu thế đều là bọn Thượng quan,

                                        Mặt đất đâu đâu cũng dòng Mịch La.

                                        Cá rồng không nuốt, hùm sói nuốt,

                                        Hồn ơi, hồn ơi, biết sao mà?)

                                                                               (Khương Hữu Dụng - Xuân Diệu dịch)

     Nguyễn Du triệt để khai thác, liên tưởng, nhấn mạnh và đi đến nâng cấp, đúc kết những khía cạnh có tính muôn thuở của con người. Ông luôn đặt mỗi sự kiện, hiện tượng và nhân cách trong tương quan với bản chất sự sống, với cái vô cùng vô tận của thời gian và không gian. Chính vì thế mà ông luôn trở đi trở lại các môtip nấm mồ, đứng trước mồ, bóng chiều, bóng đêm, gió tây, trời tây; luôn ngoái nhìn lại quá khứ với những tuổi xuân, tuổi trẻ, cảnh xưa người cũ đã một đi không trở lại; luôn luôn đặt mình vào một "ngày mai", khi mình đã nhắm mắt xuôi tay, đã đi qua cõi đời, đã cập bến hư vô mà gián cách chiêm nghiệm lại những tháng năm quá khứ. Qua các hình tượng nhân vật lịch sử, một mặt ông bày tỏ rõ thái độ trước những chính - tà, thiện - ác, đúng - sai nhưng cũng đi tới chiết trung, tâm trạng hư vô chủ nghĩa, coi mọi sự sang giàu, chức quyền, buồn vui cũng chỉ là hư ảo:

                                        Nhân sinh quyền lợi thành vô vị,

                                                    Kim cổ thùy năng phá thử mê.

                                                                                                    (Tô Tần đình - Kỳ nhất)

                                        (Cho hay đời người uy quyền danh lợi thực là vô vị,

                                        Mà xưa nay ai phá được giấc mê  ấy)

                                                                                                    (Đình Tô Tần - Bài 1)

                Trước đây Nguyễn Du khóc thương nàng Tiểu Thanh mà chạnh lòng xót xa cho thân phận mình một mai  về cõi hư vô: Bất tri tam bách dư niên hậu - Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa - Người đời ai khóc Tố Như chăng?) thì bây giờ ông cảm thương mọi kiếp con người:

                                                    Sơn hạ kiều tùng, tùng hạ phần,

                                                    Luy luy đô thị cổ thời nhân.

                                                    Tự do tự tại bất tri tử,

                                                    Hoa lạc hoa khai vô hạn xuân.

                                                    Phục lạp tử tôn không loại tửu,

                                                    Thế gian phú quí đẳng phù vân.

                                                    Bách niên đáo để giai như thị,

                                                    Hồi thủ mang mang nhất phiến trần.

                                                                                        (Đồ trung ngẫu hứng)

                                        (Chân núi có thông, dưới có mộ,

                                         La liệt đều là người thiên cổ.

                                        Tự do, tự tại chết nào hay,

                                        Hoa nở, hoa tàn xuân mấy độ.

                                        Con cháu giỗ chạp rượu rưới hoài,

                                        Giàu sang trên đời mây nổi đó.

                                        Trăm năm rút cuộc đều như nhau,

                                        Ngoảnh lại mơ màng đám bụi nhỏ)

                                                                (Phạm Khắc Khoan – Ngô Ngọc Can dịch)

                Bên cạnh kiệt tác Truyện Kiều và thi phẩm Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi Văn chiêu hồn) cùng các tác phẩm thời trai trẻ, có thể nói bộ phận thơ chữ Hán giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du. Ba tập thơ cho thấy những chặng đường sáng tác phù hợp với các chặng đường đời và tư tưởng tác giả. Xuyên suốt nội dung thơ chữ Hán Nguyễn Du là tiếng nói trữ tình, tiếng nói nhân văn giữa một thời tao loạn, tiếng nói khắc khoải tìm về ý nghĩa đích thực của cuộc sống con người.

    NHS.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,829

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/