Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập45,817,499

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Tuấn - Chàng trai nước Việt

Nguyễn Vỹ

  • Thứ năm, 08:50 Ngày 20/05/2021
  • CHƯƠNG 59

    1940

    -  Tin Paris bị quân đội Hitler chiếm đóng làm xôn xao dư luận dân chúng Việt Nam.

    -  De Gaulle Toàn quyền Catroux.

    -  Hà Nội báo động.

    -  Hải Phòng bị Nhật ném bom lần đầu tiên.

    -  Dân chúng Hà Nội tản cư về các vùng quê.

    -  Lạng Sơn bị Nhật chiếm. Việt Nam Phục Quốc Quân.

    -  Phi cơ và quân đội Nhật ào ạt đến Hà Nôị.

    -  Những câu sấm Trạng Trình.

    Ở Hà Nội, tin chiến tuyến Maginot bị đổ vỡ, và Paris bị thất thủ, gây một không khí xúc động mãnh liệt bất ngờ, so với trận Ðệ Nhất Thế Chiến giữa Ðức và Pháp kéo dài 4 năm từ 1914 đến 1918. Người ta đều tin tưởng rằng trận Ðệ Nhị Thế Chiến này dù Ðức mạnh đến đâu chăng nữa, Pháp cũng chống cự được 3,b4 năm, với sự giúp đỡ của đồng minh.

    Ai ngờ đâu quân đội Hitler tràn ngập đất Pháp với một lực lượng kinh hoàng như sấm sét chà nghiến các chiến trường Pháp như một con quái vật khổng lồ dẫm lên một bầy người tí hon. Tất cả đều chết bẹp, hoặc còn sống sót thì chạy tán loạn không kịp thở.

    Cả một đoàn quân Ðồng minh Anh cũng vội vàng chạy ra hải cảng Dunkerque, bỏ lại nước Pháp trơ vơ, rối loạn, khiếp đỡm, làm mồi cho quân Ðức.

    Hà Nội xôn xao với những tin chiến trận bất ngờ ấy. Các giới cách mạng” An nam” cũng vô cùng kinh ngạc. Chẳng có một đảng phái quốc gia nào, và cả đảng cộng sản, chuẩn bị sẵn sang để chờ đón biến cố phi thường ấy, hầu như là phi lý …

    Ðó là vào giữa tháng 5 năm 1940…

    Tin tức bên Pháp vẫn qua đều đều và dồn dập mỗi ngày nhiều biến cố mới, hầu hết là bi đát và trái ngược nhau, chứng tỏ một tình trạng chính trị vô cùng hỗn loạn. Nội các Paul Reynaud cố tiếp tục chiến tranh mặc dầu ngày 10- 6- 1940, Paris đã bị quân đội của Hitler chiếm đóng mà không tốn một viên đạn.

    Paris đã được tuyên bố là thành phố bỏ ngỏ. Quân đội Pháp đã tản cư vội vã và lộn xộn. Trong cuộc” chạy giặc” vĩ đại của những đợt sóng dân chúng hoàn toàn rối loạn từ các tỉnh miền Bắc ào ạt tiến xuống các vùng quê miền Tây và miền Nam, làm nghẻn tất cả các con đường.

    Tổng thống Lebrun, và nội các Paul Reynaud cũng hấp tấp tản cư về Orléans rồi chạy xuống Bordeaux, hải cảng cuối cùng của miền Tây Nam, trên bờ Ðại tây dương. Nơi đây chính phủ Thượng và Hạ viện Pháp chia làm hai phe: một theo Paul Reynaud quyết tản cư qua thuộc địa Algérie ở Bắc Phi châu và tiếp tục chiến đấu, một phe theo Thống chế Pétain và Ðại tướng Weygand xin đầu hàng và đơn phương đình chiến với Ðức, nghĩa là phản bội lại Ðồng minh Anh quốc. Vì áp lực quân sự quá mạnh, lực lượng quân đội Pháp hoàn toàn bị tan rã, nên phe đầu hàng thắng thế. Thống chế Pétain, vị anh hùng thắng ở Verdun hồi Ðệ Nhất Thế chiến đứng ra lập một chính phủ đầu hàng ở Vichy. Pierre Laval làm thủ tướng chủ trương triệt để hợp tác với Ðức và nhận mệnh lệnh của Hitler.

    Ðại tá De Gaulle vừa mới được Paul Reynaud làm cho Thứ trưởng Bộ Chiến tranh hồi tháng 5- 1940, và được thăng cấp bực Thiếu tướng, từ Bordeaux đã trốn bay qua Luân đôn để thành lập một chính phủ lưu vong. Ngày 18 tháng 6 ông kêu gọi người Pháp tiếp tục chiến đấu với sự bảo trợ của Churchill và chính phủ Anh hoàng của George V.

    Nhóm De Gaulle lúc bấy giờ mới có độ năm bảy người thôi.

    Đông dương vẫn còn nguyên vẹn là Ðông Pháp, thuộc địa của Pháp. Lời kêu gọi của De Gaulle đọc trong đài B.B.C ở Luân Ðôn vẫn được loan truyền ở Saigon, Huế, Hà Nội, cũng như ở Phnom- Penh (thủ đô Cao Miên) à Luang Prabang, Vientiane (Lào).

    Nhưng đồng thời dân chúng An nam cũng được nghe lời hiệu triệu của Thống chế Pétain, bây giờ gọi là Quốc trưởng Quốc gia Pháp (Chef de l ‘État Francais) vì chế độ cộng hoà đã bị bãi bỏ. Pétain kêu gọi các thuộc địa Pháp” hãy trung thành chính phủ hợp pháp của Thống chế ở Vichy” và đừng nghe lời tên” phản quốc De Gaulle”. Ông này mệnh danh là” lãnh tụ nước Pháp tự do” (chef de la France Libre) đã bị chính phủ Vichy kết án tử hình khiếm diện.

    Tất cả những tin tức trái ngược và hổn độn ấy khiến cho dân chúng An nam vô cùng thắc mắc, và bàn tán rất xôn xao. Các giới cách mạng và chính trị ở Hà Nôị, Saigon, đã bắt đầu rục rịch theo dõi sát tình hình biến chuyễn ở Pháp hằng ngày, hằng giờ, để …tuỳ cơ ứng biến.

    Có một điều mà Tuấn đặc biệt chú ý, là tình hình chính phủ và quân sự của Pháp quốc đã bị phá sản như thế rồi, mà giới quan lại và trưởng giả An nam vẫn còn trung thành với” mẫu quốc” của họ.

    Ở Hà Nội cũng như ở Huế và Saigon, những lớp người đã được ân huệ của Pháp, riêng ở Nam kỳ hầu hết là những kẻ đã nhập tịch dân Pháp, như một số đông Thượng thơ, Tổng đốc Tuần phủ, đại kỷ nghệ gia ở bắc kỳ và Trung kỳ, những Ðốc phủ sứ và” Bác vật”, bác sĩ, kỹ sư, commis,”đội đồng, đại điền chủ ở Nam kỳ, đều công khai bày tỏ” lòng tri ân và luyến ái, tận tuỵ trung thành không nao núng” của họ đối với” Nước Ðại Pháp Bảo Hộ”,” Mẫu Quốc” của họ," leur attachement inébranlable à la Mère- Patrie”.

    Nhưng” Mère Patrie” nào? Vì” mẫu quốc”đã bị chia làm hai phe, công khai đả kich lẫn nhau, thù địch lẫn nhau, chửi nhau là phản quốc. Dĩ nhiên, trong những ngày đầu tiên của tháng 6 và tháng 7 cho đến tháng 9, tháng 10 năm 1940, những người Pháp cai trị ở Ðông dương đều khuynh hướng theo chính phủ kháng chiến của De Gaulle.

    Lý do rất dễ hiểu, vì lòng ái quốc của lớp người Pháp ấy cũng có một phần, nhưng phần lớn là lòng tự ái của họ đối với các dân tộc thuộc địa ở Ðông dương, nhất là đối với dân An nam. Tự ái vì họ đã bị quân Ðức đánh bại, xứ họ đang bị quân Ðức chiếm đóng một nửa (miền Bắc) gồm cả thủ đô Paris, còn một nửa miền Nam Thống chế Pétain, vị anh hùng của họ đã oanh liệt hồi nào giờ lại làm quốc trưởng bù nhìn được Hitler cho đóng đô ở thành phố Vichy bé nhỏ. Thật là một nhục nhã, cho nên vị chúa tể của họ là đại tướng Catroux, Toàn quyền Ðông dương, đã công khai theo phe De Gaulle để chứng tỏ cho dân chúng An nam và Miên, Lào thấy rằng họ chưa thật sự chiến bại.

    “ Nước Pháp đã thua một trận giặc, chứ không phải thua giặc” như lời hiệu triệu của De Gaulle ngày 18- 6- 1940: “ La France a perdu une bataille, elle n’a pas perdu la guerre”.

    Các giới An nam thân Pháp thì nhất định theo chiều hướng của Hành chánh Pháp ở thuộc địa. Viên toàn quyền và các viên Khâm sứ (Trung kỳ) Thống sứ (Bắc kỳ), Thống đốc (Nam kỳ) chủ trương như thế nào, họ cũng vổ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Họ vẫn hoàn toàn tin tưởng nơi nước Pháp, bất cứ là cái nước Pháp nào.

    Các giới cách mạng An nam nắt đầu hội họp bí mật ngày đêm để thảo luận và theo dõi sát tình hình Pháp, Ðức, và Âu châu. Ðông Nam Á còn yên ổn (trừ cuộc chiến tranh thường xuyên giữa Nhật và Trung Hoa).

    Những đề tài thảo luận sôi nổi nhất là thái độ của Nhật đối với Ðông dương sẽ như thế nào?

    Ở Hà Nội lúc bấy giờ có hai nhóm chống Nhật, và ba nhóm thân Nhật.

    Chống Nhật là đảng Cộng sản và nhóm AFI của Tuấn (Antifascistes Indépendants) -  chống Phát xít Ðộc lập. Nhóm này gồm có Nguyễn Ngọc Lễ, nữ đồng chí Khuê Lưu, Tuấn, hai sinh viên Y- khoa, và Thọ, một sinh viên trường Luật.

    (Khuê Lưu sau bị quân Pháp bắn chết ở Việt trì). Nhóm Chống Phát xít Ðộc lập đi tuyên truyền ở Hà Nội, Hải Phòng, bị các nhóm thân Nhật đả kích kịch liệt. Căn cứ trên tình hình chiến sự ở Âu châu, nhóm của Tuấn nhận xét rằng Nhật và Pháp sẽ đánh nhau trên lãnh thổ Việt Nam. Tuấn có viết sách chống Nhật, tiết lộ Kế hoạch Tanaka mà đám quân phiệt Nhật đang áp dụng, chủ trương bành trướng thế lực Nhật ở toàn thể Ðông Nam Á, xâm chiếm An nam, Cao Miên, Lào, làm căn cứ để tràn qua Xiêm, Miến Ðiện và Ấn Ðộ, đồng thời chiếm Tân Gia Ba để chận đường của Anh, Pháp, Hòa Lan. Nhưng nhóm Tuấn lại nghĩ rằng bọn đế quốc thực dân Âu châu sẽ kêu gọi Mỹ về phe Ðồng minh với họ để diệt Nhật.

    Nhóm Tuấn tin rằng thế nào Pháp và Nhật cũng sẽ đánh nhau vì Nhật ở trong” trục thép” (axe d’acier) Berlin – Rome, Tokyo, đồng minh với Ðức và Ý. Bọn Pháp ở Ðông dương theo phe De Gaulle tức là chống Nhật, thì dĩ nhiên Nhật sẽ đánh Ðông dương và Anh, Mỹ sẽ đổ bộ ở đây. Dân chúng Việt Nam sẽ thừa cơ hội duy nhất đó để nổi dậy đòi Ðồng minh Anh -  Mỹ bắt buộc Pháp phải trao trả độc lập cho mình, theo nguyên tắc” 14 điểm của tổng thống Wilson hồi 18- 19 xác nhận: “ quyền dân tộc tự quyết (le droit des peuples de disposer d’eux- mêmes).

    Nhóm AFI của Tuấn lấy câu này làm khẩu hiệu tranh đấu với các nước đồng minh. Nhóm này đi hoạt động hoàn toàn bí mật, đợi khi nào Anh Mỹ đổ bộ ở Việt Nam, nhóm sẽ công khai ra mặt đòi độc lập.

    Ðêm trung thu năm 1940, anh đội khố đỏ Nguyễn Ngọc Lễ vừa ăn bánh trung thu tại nhà nữ đồng chí Khuê Lưu, vừa xầm xì cho Tuấn và các đồng chí biết tin Nhật chuẩn bị đổ bộ Hải Phòng, nội trong tháng 8.

    Người Pháp biết nhưng sẽ không dám làm gì để đối phó. Người Pháp ở Ðông dương tuy bề ngoài ra vẻ hiu hiu tự đắc để lừa bịp bịt mắt dân chúng, và tuyên bố phòng thủ Ðông dương rất kiên cố, chống mọi cuộc xâm lăng bất cứ từ đâu đến, nhưng kỳ thực họ vẫn gờm Nhật bản, và lo sợ Nhật gây hấn.

    Cái tin sốt dẻo của Nguyễn Ngọc Lễ, hình như cũng có nhiều người biết, nhất là trong quân đội Pháp, nên từ ngày hôm sau tin ấy được loan truyền rỉ tai khắp cả Hà Nội và Hải Phòng. Cùng một lúc, viên Ðốc lý thành phố Hà Nội ra lịnh bắt dân chúng gấp rút sửa sang lại các hầm trú ẩn lâu ngày để cỏ mọc tùm lum, nước đọng dơ bẩn, và đào thêm nhiều hầm mới.

    Tiếng đồn xôn xao khắp thành phố, tuy chưa thấy dấu hiệu gì chứng tỏ người Nhật sắp hành động gây chiến. Ði đâu cũng nghe dân chúng xầm xì bàn tán sắp có đánh nhau ở Hải Phòng.

    Ông Ba Ngữ, một ông đồ Nho ở Phố Hàng Bạc, gặp Tuấn, khẻ bảo: “ Tôi chả lo! Các cụ xưa đả bảo: Thăng Long bất chiến tự nhiên thành. Tuy nhiên không khí Hà Nôị đã thay đổi một không khí hồi hộp, nặng nề, lo âu. Nhiều gia đình đã tính việc tản cư tạm về quê, để nghe ngóng xem sau.

    Sáng ngày 19/9, Tuấn mua vé xe lửa đi Hải Phòng để dò xét tình hình. Gặp mấy người bạn thân. Tuấn hỏi, họ cười bảo: “ Tin đồn, dân chúng ở đây đã biết cả, nhưng chả thấy gì”. Hải cảng không có phòng thủ, gần như một thành phố bỏ ngỏ. Dân chúng làm công việc hằng ngày chẳng có gì xôn xao.

    Trở về Hà Nội, Tuấn nghe tin hai người Triều tiên có tiệm bán nhân sâm ở phố Hàng Ðẫy gần chợ cửa Nam, tự nhiên bị nhà chức trách Pháp bắt. Nhà buôn Nhật DainamKoosi ở phố hàng Nón tự nhiên đóng cửa. Nghe thiên hạ đồn rằng mấy người Nhật đã bỏ trốn đi cả.

    Ðó là những triệu chứng bắt đầu tiết lộ một biến cố trầm trọng sắp xảy ra.

    Ðùng một cái, 7 giờ sáng ngày 23/9/1940, Hà Nội có báo động. Lần này là báo thật sự, vì toà Ðốc lý không cho biết trước. Toàn thể dân chúng nhao nhao chạy xuống các hầm nấp. Hai chiếc máy bay Pháp bay vù vù trên vòm trời Hà Nôị, nhưng bay thật cao.

    Thế rồi, không biết do ai truyền tin mà người này bảo người cho người kia biết là Nhật đang ném bom Hải Phòng. Hà Nội báo động vì có thể máy bay Nhật sẽ đến ném bom Hà Nội trong chốc lát. Dân chúng Hà Nôị lần này hoảng hốt thật sự. Thiến hạ nhốn nháo cả lên. Con nít bị lôi kéo xuống hầm, la khóc om sòm.

    Buổi sáng hôm ấy, 23 tháng 9 năm 1940. Tuấn dậy thật sớm, đi lang thang trên phố Hàng Bột, quãng đưòng này từ Ô Chợ Dừa (Khâm thiên) đến ngã ba đường Duvillier (phố Hàng Ðẩy) dọc bên hông Văn Miếu (đền thờ Khổng Tử) đến phố Sinh Từ.

    6 giờ, mặt trời chưa mọc. Khí trời mát mẻ, một làn gió hiu hiu thổi phất phơ trên ngọn cỏ lá cây. Thành phố Hà Nội còn đang ngủ. Bổng tiếng còi báo động rú lên. Lúc đầu còn nho nhỏ rôì to dần, to dần, vang dội 36 phố phường như một tiếng mê sảng, thét lên trong ác mộng. Nghe rùng rợn làm sao!

    Trong giây phút, tất cả kinh thành Hà Nôị đều tỉnh dậy, hoảng hốt, đổ xô xuống các hầm trú ẩn, chạy tán loạn trên các ngả đường.

    Tin rằng máy bay Nhật chắc là không ném bom làm chi xuống Miếu Ðức Khổng Tử, Tuấn trèo ngay trên bức thành sau, bức thành đầy rêu với vôi gạch ngày xưa đã đổ nát nhiều, ngồi chờ xem và nghe ngóng. Một mình ngồi cheo leo trên đỉnh thành. Tuấn ngó xuống các hầm chữ chi đào chằng chịt trên các đám đất hoang gần Miếu. đông nghẹt những người trú ẩn. Một cặp vợ chồng trưởng giả ở Phố Hàng Ðẫy, vợ choàng chiếc áo ngủ chưa kịp cài nút, quần ống thấp ống cao, chồng mặc quần đùi, khoác aó pyjama bằng vải sọc, nắm tay nhau chạy hớt hơ hớt hãi lên phố Hàng Bột. Vấp vào đống đá xám của lục lộ đổ bên lề đường, bà vợ té xuống đá, ông chồng vội ôm xốc lấy bà, chạy khấp khểng xuống cái hầm gần đấy. Những người đứng chật ních dưới hầm, nước mưa đọng lâu ngày lên đến đầu gối, tuy họ đang lo sợ ném bom, nhưng vẫn không nhịn cười được, tất cả đều cười rồ lên khi thấy ông chồng lính quýnh té luôn với bà vợ ngay trên miệng hầm. Hai ông bà ôm nhau chặt cứng, cả hai đều nằm sắp mặt xuống cỏ, không dám ngó lên. Hai chiếc máy bay màu xám, đang vần trên trời, tiếng kêu vù vù làm rung động cả không gian.

    Họ tưởng máy bay Nhật từ Hải Phòng bay lên và sắp ném bom, nhưng ngó kỹ thấy bóng dáng quen thuộc của hai chiếc Morane thám thính cũ- xì của Pháp, có lẽ để trấn tỉnh dân thành phố hơn là để phòng thủ, hay sẵn sàng nghênh chiến. Ngồi điềm nhiên trên tường miếu Khổng Tử, Tuấn thoáng nghĩ rằng, nếu máy bay Nhật bay đến đây thì chắc là hai chiếc Morane kia phải vội vàng cút mất, chớ đừng hòng nghênh chiến.

    Máy bay chiến đấu của Pháp ở phi trường Gia Lâm có một chiếc Potez cũ, làm gì mà không thấy bay lên phòng thủ thủ đô? Hay chúng đã bay trốn đi từ khuya rồi?

    Còi báo động đã im tiếng từ lâu. Mặt trời đã mọc, rọi ánh nắng trên một thành phố im lìm gần như nín thở. Tuấn có cảm tưởng trái tim Hà Nội đang đập mạnh trong cơn mê sảng trầm trọng, lo sợ Tử thần sắp bay đến bằng những chiếc cách đen ngòm và ghê rợn. Dân chúng dồn xuống các hầm trú ẩn, sợ hãi cho đến nỗi trẻ con khóc họ cũng bịt miệng chúng lại, một cái mũ cái khăn có màu xanh đỏ loè loẹt họ cũng cất dấu đi.

    Một tiếng đồng hồ, lâu dằng dặc. Hồi còi lại rú lên …chấm dứt báo động. Dân chúng từ các hầm trú ẩn đọng nước lóp ngóp trèo lên, chạy nhanh về nhà.

    Tuấn xuống phố Sinh Từ, gặp một người bạn họa sĩ Nguyệt Hồ, người Nam Ðịnh. Gầy như caí que, ngực lép xẹp, mang đôi giày há mồm. Nguyệt Hồ cười mừng hỏi Tuấn:

    -  Ở đâu ra đây, cậu?

    Tuấn hất hàm về phía Văn Miếu:

    -  Ở sau bếp nhà cụ Khổng, còn cậu?

    -  Tớ nấp trong sân Hội Dục Anh của cụ cả Khiêm.

    Rồi nghiêm nét mặt, Nguyệt Hồ bảo nhỏ:

    -  Hải Phòng bị ném hai quả bom, chắc cậu biết tin rồi chứ gì?

    -  Mình cũng vừa nghe tin đây. Hình như không có ai chết. Tụi Nhật chỉ ném bom xuống bờ biển để hăm dọa thôi.

    -  Láo! Có người chết lu bù. Nghe nói một quả rơi xuống phố Od’handal… Ðây không phải là tin tức của đài Phát Thanh, vì lúc bấy giờ Hà Nội chưa có Ðài Phát Thanh loan truyền tin tức, và cũng chẳng nhà nào có radio. Tất cả tin tức biết được cấp thời đều do một số người được ưu thế nghe lỏm nhờ làm việc trong Phủ Toàn quyền, trong các giới cao cấp Hành chánh Bảo hộ hoặc trong các trại lính Tây.

    Vì thế nên tin đồn rất nhiều, nhưng nhiều khi trái ngược nhau, do những người vô tình hay cố ý loan truyền thất thiệt hoặc do các giới bồi bếp của Tây không hiểu rõ tiếng Pháp nên loan tin sai lầm.

    Chỉ một giờ sau khi hết báo động là cả thành phố đều biết tin Hải Phòng bị ném bom. Nguyệt Hồ và Tuấn đi dọc theo phố Sinh Từ xuống chợ cửa Nam gặp một người bạn. Có vẻ bí mật, người bạn không ai khác hơn là Lê Văn Trương, cho biết Quân đội Nhật hoàng đang đánh Lạng Sơn.

    Tuấn hỏi Trương:

    -  Cậu lấy tin ở đâu thế? Có thật không? Hay là gián điệp cho Nhật đấy?

    Trương trố mắt la:

    -  Tao nói dối mày, tao làm con chó! Chúng nó đang đánh nhau ầm ầm ở biên giới. Giờ chúng tao đang nói với chúng mày đấy không khéo Lạng Sơn mất mẹ nó rồi còn gì!

    Vội vàng từ gĩa Lê Văn Trương và Nguyệt Hồ, Tuấn chạy một mạch về nhà Minh Phương, ngõ Văn Tân. Ðây là nhà xuất bản các sách báo của Tuấn.

    Ðến đây Tuấn được biết rằng ông Minh Phương đã đưa mẹ, vợ và con” về quê lánh nạn”. Phong trào” về quê lánh nạn”đang được thịnh hành ở Hà Nội từ một tuần lễ đầu có chuyện rục rịch đánh nhau giữa Nhật và Pháp ở Bắc Kỳ. Chỉ còn anh bếp ở lại giữ nhà. Lúc Tuấn đến, anh bếp từ dưới hầm trú ẩn ở trong sân vừa chui ra, hỏi Tuấn:

    -  Hết báo động rồi sao, cậu Tuấn?

    -  Hết từ nãy giờ. Chú không nghe à?

    -  Sợ thấy mồ, còn nghe cái khỉ khô gì đâu!

    -  Ông Minh Phương đâu?

    -  Ông ấy đem mẹ nó cả gia đình về lánh nạn rồi còn chó gì.

    -  Ông ấy đi lúc nào? Chiều hôm qua chưa đi mà?

    -  Còn mỗi một mình chú ở lại giữ nhà thôi à?

    -  Thế mới cực bỏ mẹ.

    -  Cực cái gì?

    -  Chứ cậu nghĩ xem: Hai ông bà lo đi về quê lánh nạn, bỏ tôi ở lại giữ nhà, nhỡ bom ném xuống sập nhà thì làm thế nào? Tôi phải dọn cất các đồ đạc trong nhà, chả dám đi đâu cả!

    -  Không sao đâu, đừng lo.

    -  Cậu ở đâu?

    -  Tôi vẫn ở phố Mã Mây.

    -  Thôi cậu dọn về ở đây với tôi cho vui, nhé? Tôi thổi cơm cho cậu ăn. Ở đây đánh cờ tướng chơi.

    Tuấn cười:

    -  Giặc giã đến nơi, ở đó mà đánh cờ tướng!

    -  Nghĩ cho kỹ thì Nhật họ đánh Tây, chứ ăn thua gì An nam, phải không cậu? Tây phải phòng thủ Hà Nội.

    -  Ðất này là đất An nam chứ đất Tây à? Nhật nó đánh Hà Nôị, thì nó làm thịt chúng mình! Còn Tây thì Nhật quét hết xuống hồ Hoàn Kiếm, thây kệ chúng nó chứ.

    -  Ồ Thăng Long bất chiến tự nhiên thành, mà cậu!

    -  Nếu thế thì chú còn sợ cái quái gì?

    -  Sợ máy bay Nhật ném bom thôi. Hôm nào Hà Nội bị ném bom thì tôi cũng chuồn về quê lánh nạn. Còn cậu?

    -  Tôi chả đi đâu cả.

    Tiếng còi báo động lại rú lên rùng rợn.

    -  Thấy mẹ!

    Chú bếp vừa kêu hoảng lên như thế vừa chui vội xuống hầm. Trong nháy mắt chú biến mất tiêu. Tuấn do dự thấy chiếc thang dựng nơi vách tường, Tuấn leo tuốt lên sân thượng để xem dân thành phố chạy đi trú ẩn lần nữa.

    Khi nào máy bay Nhật đến, mình sẽ nằm sấp xuống sàn sân thượng để nghe ngóng và ngóc đầu xem nó ném ở chỗ nào, và ném bom cách nào...

    Tuấn quyết không chạy trốn và ở tại chỗ để quan sát tường tận những giờ phút bắt đầu biến chuyễn của Lịch Sử.

    Thăng Long, 10 giờ sáng ngày 23/9/1940.

    Tin Hải Phòng bị Nhật ném bom vừa được xác nhận, toàn thể dân chúng lo sợ quân đội Nhật Hoàng đổ bộ lên Hải Phòng, chiến tranh sẽ xẩy ra giữa quân Nhật và quân Pháp. Dư luận của người An nam rất phân vân, vì ít người biết rõ thực lực của Nhật và cả của Pháp ở Bắc kỳ. Nếu Nhật đổ bộ và chiếm Hải Phòng, thì họ sẽ lần lượt theo đường xe lửa kéo lên đánh chiếm Hải Dương, Bắc Ninh, rồi tới Hà Nội. Thế nào rồi Hà Nội cũng bị ném bom, và chắc chắn chiến tranh sẽ ác liệt, Bắc kỳ sắp biến thành bãi chiến trường.

    Nói đúng ra thì đại đa số người An nam không lo sợ cho xứ sở và cho thân mình. Bàn tán với nhau về chiến cuộc đang bùng nổ, họ chỉ than thở bằng một câu tục ngữ: “ trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”. Họ có cảm tưởng rõ rệt là nếu Tây thua trận, thì Nhật sẽ chiếm cứ Hà Nội, Bắc kỳ, và người An nam sẽ mặc nhiên phải thay chủ cũ, để làm nô lệ cho chủ mới. Thế thôi!.

    Ý tưởng rất giản dị ấy thay thế cho tinh thần chiến đấu hầu như đã mất mát khá nhiều, nơi đa số dân An nam sau nửa thế kỷ thế kỷ chịu đựng cuộc đô hộ của Pháp. Dân chúng có khuynh hướng cầu an vì cái mặc cảm yếu hèn của một thói quen làm nô lệ, cho nên họ tự coi mình như” ruồi muỗi”, trong cuộc xô xát giữa” trâu bò”. Chính vì tâm trạng bạc nhược đó mà các đảng phái cách mạng thường gặp nhiều khó khăn trong việc chiêu mộ đồng chí, do sự lãnh đạm sợ sệt của số đông quần chúng.

    Vả lại, nếu chiến tranh bùng nổ ở Ðông dương, thì chỉ có Nhật với Pháp đánh nhau. Chứ An nam có gì đâu để đánh? Một khí giới tự vệ cũng không có, thì biết đánh đập ai?

    Nhưng rồi ai nấy đều ngạc nhiên nghe tin tỉnh Lạng Sơn ở biên giới Trung Hoa bị quân Nhật vừa đánh chiếm hôm trước, thì hôm sau họ giao trả lại cho Tây.

    Cái tin sét đánh ấy khiến mọi người đều ngơ ngác, chẳng hiểu sao cả, Hà Nôị nhận được tin từ biên giới loan về cho biết Nhật đã đánh lấy Lạng sơn với một Ðạo quân Cách mạng của Cường Ðể. Quân Pháp chết rất nhiều. Cờ Nhật đã bay phất phớ tại tỉnh thành Lạng Sơn.

    Ðám thân Nhật của Vũ Đình Duy, chủ nhiệm báo Effort Indochinois, và Nguyễn Tường Tam được cơ hội tuyên truyền công khai ở Hà Nội. Duy hãnh diện bảo Tuấn:

    -  Anh thấy không, Tuấn? Việt nam mình đã thắng Pháp rồi đấy.

    Tuấn hỏi:

    -  Việt Nam thắng hay Nhật thắng?

    -  Nhật chỉ giúp ta. Chính Quân đôị Việt Nam Phục Quốc ở Quảng Tây đã chiếm được thành phố Lạng Sơn.

    -  Nếu thế thì đáng khen Phục Quốc quân. Nhưng sao lại có tin là quân Nhật đã giao trả Lạng Sơn lại cho Pháp, và một nhóm Việt Nam Phục Quốc Quân do người con nuôi của Cường Ðể chỉ huy, theo quân Nhật vào Lạng Sơn đã bị Nhật bỏ rơi và bị quân Pháp đánh đuổi tơi bời và giết hại rất nhiều.

    Tuấn tìm đến hỏi Duy thì Duy đã đi mất, Tuấn tìm đến Nguyễn Tường Tam, Tam cũng biến đi đường nào, không ai biết tăm hơi ở đâu.

    Tình hình Hà Nội trở lại yên tỉnh, không còn báo động nữa, và Hải Phòng cũng bình yên vô sự. Chiến tranh” quái gở” chỉ kéo dài có 24 tiếng đồng hồ. Ðồng thời, tất cả các nhật báo Ðông Pháp, Tin Mới, Trung Bắc, đều đăng những dòng chữ lớn, 8 cột, loan tin: “ Trung tướng Ninshihara đã đến Hà Nội viếng thăm Ðại tướng Catroux, Toàn quyền Ðông dương.

    Tôí hôm đó, anh đội khố đỏ Nguyễn Ngọc Lễ cho Tuấn và các đồng chí trong nhóm biết: “ Trung tướng Nishihara cầm đầu một phái đoàn Nhật bổn đã đến ở dinh Toàn quyền để thương thuyết về vụ Quân đôị Nhật hoàng sắp chính thức được qua chiếm đóng Hà Nội.

    Theo những tin tức của anh đội khố đỏ đã nghe ngóng trong trại lính của anh thì người Nhật đòi người Pháp phải để cho Nhật được quyền kiểm soát đường xe lửa Hà Nội -  Lạng Sơn và Hà Nội -  Vân Nam. Vì người Nhật nghi người Pháp đã dùng hai đường xe lửa nầy để tiếp tế khí giới cho Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh.

    Nhưng đó chỉ là một cái cớ để Nhật qua chiếm Bắc kỳ mà khỏi phảỉ chiến tranh với Pháp. Cuộc ném bom ở Hải Phòng, và trận đánh chiếm Lạng Sơn chỉ có mục đích làm áp lực Toàn quyền Catroux phải chấp nhận những yêu sách của Nhật.

    Trước sức mạnh hùng hổ của quân đội Nhật hoàng, tướng Catroux đã phải buộc lòng nhượng bộ, và phái đoàn Nishihara được tiếp đón trọng thể tại Phủ Toàn quyền.

    Những yêu sách quân sự của Nhật đã được thỏa mãn, Nhật liền trả tỉnh thành Lạng Sơn lại cho Pháp, và bỏ rơi nhóm Phục Quốc Quân Việt Nam của Cường Ðể. Nhóm này không quá 300 người, bị quân Pháp tái chiếm Lạng Sơn, đánh giết tơi tả, còn sống sót một số ít tàn quân phaỉ trốn tránh trong rừng núi Quảng Tây, Quảng Ðông.

    Tại Hà Nội, những người An nam thân Nhật trở lại tiếp tục hoạt động ráo riết. Rất nhiều tin đồn được loan truyền trong dân chúng về việc tướng Nhật Nishihara đến Phủ Toàn quyền. Người ta đồn rằng phái đoàn Nhật gồm nhiều người An nam cách mạng ở Nhật lâu ngày, nói tiếng Nhật rất thạo, lất tên Nhật và mặc quân phục Nhật.

    Trong buổi tiệc do Ðại tướng Catroux, Toàn quyền Ðông dương thết đãi phái đoàn Nhật, một viên Sĩ quan cao cấp Nhật không ngần ngại cho Catroux biết ông là người Việt Nam, và y hỏi Catroux tại sao dám áp chế và bạc đãi người An nam?

    Viên Toàn quyền trả lời bướng bỉnh sao đó, thì liền bị người An nam cải trang làm Sĩ quan Nhật kia đánh hai bạt tai nẩy lửa. Toàn quyền Catroux đành câm miệng, chịu đòn, không dám hó hé.

    Những chuyện đồn đãi như thế rất nhiều, tuy là bịa đặt nhưng vẫn được dân chúng tin là có thật. Rồi ít xít ra nhiều, những” giai thoại ly kỳ quái gở tràn ngập khắp dư luận thành phố Hà Nội, cho đến đỗi tụi trẻ nít cũng biết và đi đâu cũng nghe bàn tán chung quanh những mẫu chuện” Nhật Bổn”được thêm bớt khác nhau”.

    Người ta còn tiết lộ cả tên họ và quê quán của những vị” anh hùng” An nam dưới chiêu bài Sĩ quan cao cấp Nhật Bổn ấy nữa.

    Thật ra những tin đồn có quá nhiều người An nam mặc quân phục đeo lon Sĩ quan cao cấp Nhật trong phái đoàn của tướng Nishihara đến Hà Nôị đều là những tin thất thiệt.

    Ðó là những tin do các đảng phái An nam thân Nhật phao truyền ra để gây uy tín cho chính họ đối với đồng bào và đối với các đảng phái khác. Xem danh sách phái đoàn Nhật của Nishihara (Mission Japonaise) đăng trong các báo người ta chỉ thấy toàn những tên Nhật, không có danh tánh” An nam” nào. Giả sử họ dấu tên thật của họ dưới một tên Nhật, thì họ đâu còn là người” An nam” nữa? Và đấy đâu phải là một điều hãnh diện cho họ, hay là cho Quê Hương của họ?

    Môt lối tuyên truyền khác cũng do các phần tử thân Nhật phổ biến trong dân chúng, là các câu” sấm” mà họ gán đại cho Trạng Trình.

    Người Nhật đến Hà Nội một tháng thì người ta thấy nơi đầu cầu sông Cái (cầu Doumer) ở phía Gia Lâm có một anh mù ngồi kéo đàn cò và hát giọng sa- mạc những câu sấm để xin tiền khách qua đường đứng lại nghe anh. Ðại khái anh hát những câu sau đây:

    Bao giờ cua cái đổi càng,

    Thì giống da vàng đùm bọc lẫn nhau,

    Những loài da trắng mắt thau,

    Bồng con bế vợ dắt nhau ra về.

    Một hôm Tuấn sang cầu Gia Lâm nghe anh ta hát. Trong đám đông thính giả, có một cụ già hỏi:

    -  Cua cái đổi càng là nghĩa thế nào, hả anh?

    Anh ca sĩ mù giảng giải với giọng nói của người Thái Bình:

    -  Con cua cái nó có hai cái càng không đều nhau, càng bên phải thì nớn, càng bên trái thì nhỏ. Daọ này nó nại đổi càng, bên phải thì nhỏ, bên trái thì nớn.

    -  Sao anh biết?

    -  Cụ không tin thì Cụ ra chợ, đến hàng bán cua mà xem có phải rằng nà cái càng bên trái thì nại nà nớn không?

    -  À thế hả?

    -  Thế mới thật nà đúng mấy câu Sấm Trạng Trình.

    -  À thế ra câu hát ấy là Sấm Trạng Trình đấy à? Anh thuộc nhiều sấm Trạng Trình thế cơ?

    -  Sấm của cụ Trạng Trình thì tôi thuộc nằm nòng. Chả thế mà tôi thấy như cái câu ấy nà rất đúng mấy thời sự.

    -  Ðúng với thời sự như thế nào?

    -  Này nhé: Bao giờ cua cái đổi càng, nà cụ đã tiên tri rằng đến ngày nay nà cua cái đổi càng, thì giống da vàng đùm bọc lấy nhau. Giống da vàng thì người An nam mấy người Nhật nà cùng giống da vàng, phải đùm bọc mấy nhau …che chở nẩn nhau. Còn những người da trắng mắt thau nà …ai? Người có học nà hiểu giống người nào nà da trắng mắt thau. Tôi chưa nói Cụ cũng biết nà ai chứ? Chúng nó sẽ bồng con bế vợ dắt nhau ra về. Nghĩa nà chúng sẽ bị giống da vàng đuổi về, chúng phải bồng bế vợ con mà đi về bên xứ. Ðấy, câu sấm này ninh ứng như thế. Cụ Trạng Trình tiên tri nà không có sai bao giờ.

    Người ta lại được nghe một câu” sấm Trạng Trình" này nữa cũng do anh mù ở đầu cầu Gia Lâm hát ra:

    Bao giờ thằng Bảo ra thau,

    Thầy Tăng xách gói mau mau ra về

    Anh mù giảng cho thính giả nghe:

    - Thằng Bảo …nà….nà…

    Không nói tiếp anh mò bàn tay tong chiếc mũ nỉ” hàng phở” mà anh để ngửa ra trước chổ nhồi để khách từ tâm vứt đây cho anh những đồng hai hào, một hào, một xu, và tiền” Bảo Ðại”, loại tiền này bằng thau, mà dân chúng thường gọi là tiền” chinh” (6 đồng chinh Bảo Ðại là 1 xu) nhỏ bằng nửa đồng tiền Khải Ðịnh. Anh mù nhặt một đồng chinh Bảo Ðại trong chiếc mũ đựng tiền bố thí của khách, đưa cao lên và giảng tiếp:

    -  Bao giờ thằng Bảo ra thau, nà Bảo Ðại phát hành ra đồng tiền thau này, thì…Thầy Tăng …nói nái ra là …thằng Tây xách gói mau mau ra về. Ðấy, cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã biết trước việc Bảo Ðại phát hành ra tiền chinh bằng thau, và thằng tây lo xách gói ra về. Tức nà câu sâm ninh ứng vào thời thế bây giờ …

    Những câu” sấm” như thế mà mấy người An nam thân Nhật bịa đặt ra và lợi dụng uy tín của cụ Trạng Trình để gán cho cụ, đều có mục đích tuyên truyền cho Nhật cho các đảng phái thân Nhật, tay sai của Nhật như Vũ Đình Duy, Nguyễn Tường Tam, v.v…và bọn” Nhật bổn xứ” mà ngươi Pháp gọi là à Japs locaux.

    Nói đúng ra, thì người Nhật đã làm cho những bọn người tay sai thất vọng nhiều trong mấy lúc đầu. Họ tưởng Nhật đổ bộ lên Hải Phòng, sẽ chiếm các tỉnh, rôì lên chiếm kinh đô Hà Nôị. Họ tưởng rằng Nhật ném bom Hải Phòng và đánh chiếm tỉnh lỵ Lạng Sơn là mở màn cho cuộc chiếm đóng toàn thể lãnh thổ An nam, và giải phóng cho dân tộc An nam.

    Họ thật không ngờ Trung tướng Nishihara, trưởng phái đoàn Nhật Bổn, qua tiếp xúc với phủ Toàn quyền Pháp ở Hà Nôị là chỉ có nhiệm vụ ký một bản hiệp ước cho Quân Ðội Nhật hoàng, có quyền kiểm soát đường xe lửa Hà nội – Vân Nam để ngăn ngừa đồng minh Anh Mỹ xử dụng đường xe lửa ấy để tiếp tế khí giới cho chính phủ Tưởng Giời Thạch xuyên qua Vân Nam phủ.

    Toàn quyền Catroux ký thỏa hiệp ấy xong, là người Nhật trả liền tỉnh Lạng Sơn lại cho Pháp, bỏ rơi cả bộ đội” Việt Nam Phục Quốc Quân” của Trần Trung Lập (con nuôi của Cường Ðể), bộ đội này đã cùng đi theo bộ đôị Nhật của tướng Matsui vào đánh chiếm Lạng Sơn ngày 3/9/1940 cùng một ngày với vụ Nhậtt ném bom 25 kí xuống Hải Phòng.

    Sau khi được trở lại Lạng Sơn do quân Nhật trao trả, quân đôị Pháp truy kích V.N Phục Quốc Quân, và đánh tan tành. Một đoàn chạy về phía Mông Cáy rút qua Quảng Ðông, một đoàn khác bị quân Pháp tiêu diệt ngay trong rừng.

    Sự phản bội của quân Nhật ở Lạng Sơn đã khiến phe đảng thân Nhật ở Hà Nội vô cùng tức giận, và họ không thể trả lời cách nào suông sẻ cho những người hỏi họ lý do sự phản bôị của người Nhật.

    Một chiến sĩ Phục Quốc Quân bị người Pháp bắt giam ở nhà lao Lạng Sơn có viết một cuốn hồi ký bằng chữ li ti rất nhỏ trên giấy hút thuốc, và nhét dấu trong lai quần. Tập Hồi ký nhỏ cho đến nỗi mấy lần anh bị lính Pháp giải qua các cửa ngục, từ Lạng Sơn về Hà Nội, mà lính khám xét trong mình anh rất kỹ vẫn không bắt gặp.

    Tuấn được chính tác giả cho xem” quyển” hồi ký chiến sự hy hữu đó trong xà lim mật thám ở Hà Nội, lúc Tuấn bị bắt giam trong đó.

    CHƯƠNG 60

    1940 – 1941

    -  Quân đội Nhật đóng tại Hà Nội, Hải Phòng, rôì chiếm lần vào Huế, Ðà Nẵng, Cam Ranh, Saigon.

    -  Thái độ của họ đối với dân chúng An nam.

    -  Xiêm la đổi tên là Thái Lan và Ðồng Minh với Nhật.

    -  Thái Lan tuyên chiến với Pháp

    -  Ở Cao Miên

    -  Mỹ tuyên chiến với Nhật.

    -  Những hoạt động chống Nhật và thân Nhật.

    Tháng 9 năm 1940, Quân đội Nhật hoàng chỉ đến đóng ở Hà Nội và Hải Phòng và các tỉnh có đường xe lửa qua Trung Hoa, để” kiểm soát” các chuyến xe lửa không được chở khí giới qua các biên giới Tàu. Họ được quyền xử dụng ba sân bay ở Gia Lâm (Hà Nội), Lào Cay và Phủ Lạng Thương.

    Lính Nhật mới chân ướt chân ráo đến Hà Nội để chứng tỏ một mặc cảm tự kiêu, tự đại, gây ra một thành kiến tàn bạo cho dân chúng” An nam” khiếp sợ. Thí dụ như tiếng đồn sâu rộng trong dân gian rằng khi người Nhật bắt được một kẻ trộm, kẻ cắp, thì họ sẽ chặt đứt 5 ngón tay của tội nhân. Người nào chống đối họ, họ chém đầu liền.

    Cả những người Pháp ở Hà Nội cũng lo sợ …Một bà đầm gặp người lính Nhật ngoài phố, không chào hắn, hoặc nhìn hắn với cặp mắt khinh khỉnh, là bị hắn xấn tới đánh một tát tai nẩy lửa liền, và chửi tơi bời. Nghe nói một ông quan Toà Pháp bị một tên lính Nhật đánh ngay trước cổng Toà, cũng vì nguyên nhân ấy. Chánh quyền Pháp bất lực, can thiệp không hiệu quả, đành đăng báo khuyên dân chúng Pháp, Nam”đối xử nhã nhặn và thân thiện với quân đội Nhật hoàng” (Les soldats du Mikado).

    Lính Nhật tổng số đóng ở Bắc kỳ là 6000 người, không được cảm tình của dân chúng, cả tụi con nít ngây thơ và hiếu kỳ thường bu theo họ để làm quen. Phần đông lính Nhật có điệu bộ cứng rắn, nghiêm nghị, khiến thường dân không dám tiếp xúc với họ. Ða số đeo kính trắng, ra vẻ người trí thức, và hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan đều đeo gươm, cái vỏ gươm bằng gỗ dài lòng thòng, mà họ kéo kêu lạch cạch trên đường phố.

    Một năm sau, ngày 27- 7- 1941, một hiệp ước mới ký kết giữa Pháp và Nhật để cho quân đội Nhật hoàng vào đóng ở Huế, Ðà Nẵng, Cam Ranh, và cuối cùng vào Saigon và các tỉnh Nam kỳ. Tất cả vào khoảng 35.000 người.

    Nước Xiêm (Siam) ký hiệp ước đồng minh với Nhật, và đổi tên là Thái Lan, (Thailand) được Nhật xúi dục tuyên chiến với chính phủ thuộc địa Pháp ở Ðông dương, để đòi lại hai tỉnh Battambang và Siemréap của Cao Miên, sát biên giới Xiêm. Thái Lan bảo là đất nguyên thủy của họ.

    Lính khố đỏ An nam ở Hà Nội do bộ chỉ huy Pháp đưa đi xe lửa tốc hành vào Saigon để lên Cao Miên đánh giặc Xiêm.

    Tuấn xen lẫn trong đám đông dân chúng Hà Nội đi xem cuộc huy động ồn ào náo nhiệt đó tại phố Sanh từ và nhà ga lớn ở Hà Nội, lúc 7 giờ tối một đêm Hè. Tuấn hỏi một anh lính:

    -  Ðánh giặc Xiêm thì có lính Cao Miên và lính Tây. Sao các anh cũng đi đánh?

    Người lính khố đỏ” An nam” thản nhiên đáp:

    -  Chúng tôi là lính, quan trên sai đi đâu thì đi đó, chứ biết thế nào mà nói.

    Một thầy đội quen biết với Tuấn cũng trả lời y như thế.

    Tuấn hỏi:

    -  Theo anh, thì tụi Xiêm sẽ thắng, hay là Ðông dương sẽ thắng?

    Ông đội khố đỏ cười:

    -  Có lính An nam mình dự trận, thì Xiêm làm sao thắng nổi?

    Chiến tranh bắt đầu tháng 11- 1940, chỉ kéo dài không quá 2 tuần lễ. Lính khố đỏ An nam chiếm đóng biên giới Cao Miên. Lính Xiêm không dám tấn công. Một trận thủy chiến xẩy ra trên vịnh Thái Lan. 3 tàu chiến Xiêm bị Hải Quân Pháp đánh đắm. Thái Lan tổn thất nặng nề và hoàn toàn bại trận. Nhưng Nhật Bản nhẩy vào can thiệp, ép buộc Pháp phải nhượng bộ Thái Lan. Rốt cuộc, Thái Lan thua mà thắng!

    Ðêm 22- 11- 1940, lợi dụng chiến cuộc đang bùng nổ giữa Pháp thuộc địa và Xiêm, Kỳ bộ Nam kỳ của Ðảng Cộng Sản Ðông Dương nổi dậy lập” Chánh phủ nhân dân dân chủ cộng hòa Ðông Dương”, và tổng khởi nghĩa ở Hốc Môn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu …Toàn quyền Decoux ra lệnh đàn áp ác liệt bằng máy bay ném bom, y như Toàn quyền Robin hồi 1930 ở Cổ Am tàn sát VNQDÐ, 15 ngày sau, phong trào cộng sản ở Ðồng Tháp Mười và các tỉnh ở Nam Kỳ bị dập tắt, đánh đập, và đày đi Côn Lôn.

    Ở Hà Nội, các lãnh tụ Cộng sản tìm cách thoát ly ra vùng biên giới Tàu để tiếp tục hoạt động.

    Ðồng thời, Việt Nam Phục Quốc Hội của Kỳ ngoại hầu Cường Ðể đang hoạt động mạnh ở vùng Lạng Sơn, sau sau vụ phản bội của Trung Tá Nhật Sato.

    Nghe tin Quân đội của V.N. Phục Quốc Hội phải bỏ Lạng Sơn mà chạy trốn qua Tàu, bị quân Pháp đuổi theo sát hại khá nhiều (10- 1940), thanh niên cách mạng Việt Nam ở Hà Nội phẩn uất vô cùng.

    Những người đã thù ghét Nhật lại càng chống Nhật quyết liệt hơn. Một số sinh viên, học sinh, thanh niên trí thức chống Nhật bèn chủ trương xúc tiến phong trào” Quốc gia chống Nhật Pháp”. Tuấn hăng hái gia nhập vào nhóm trẻ nầy. Một tờ truyền đơn được phân phát bí mật,” Nhật phản bội Việt Nam Phục Quốc Quân từ Quảng Tây đã đánh chiếm được Lạng Sơn, cùng với đạo quân Quảng Ðông của Nhật, và đang tăng cường lực lượng để biến Lạng Sơn thành căn cứ Quân Ðội Việt Nam Cách mạng. Tại sao Tướng Nishihara lại qua Hà Nội thỏa thuận với Pháp, giao trả lại Lạng Sơn cho Pháp?

    Tại sao? Dân tộc Việt Nam phẩn uất vì Nhật bổn đã phản bội Việt Nam, và đồng lỏa với thực dân Pháp để đàn áp Việt Nam!”

    Một trong những người hăng hái phát truyền đơn này trong giới Quân lính An nam ở Hà Nội, là viên đội khố đỏ Nguyễn Ngọc Lễ, sau làm Trung Tướng Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà ở Saigon năm 1963.

    Tuấn đêm nào cũng đến với các bạn đồng chí, hoặc đi các tỉnh miền Bắc để quan sát tận mắt, không mấy khi về nhà.

    Phe thân Nhật, trong nhóm” Dân Chính Ðảng” của Khái Hưng và Nguyễn Tường Tam họat động ráo riết. Nhưng đảng viên của họ cũng không đông đảo mấy. Một hôm, Tuấn hỏi Khái Hưng về cụ Lạng Sơn. Chủ tịch ban chấp hành Trung ương Dân Chính đảng cười gượng, trả lời:

    -  Làm sao chúng ta biết được bí mật quân sự của họ. Biết đâu là một chiến lược cao, có lợi cho chính sách khôn khéo của Nhật hoàng?

    Tuấn lại hỏi liền:

    -  Phản bội đồng minh, là khôn khéo thế nào?

    Sự thật, Dân Chính đảng không thu hút đa số thanh niên trí thức cách mạng. Họ chỉ tuyên truyền lôi kéo được một vài phần tử trưởng giả xu thời ở Hà Nội mà thôi. Cho nên sau đó, năm 1945, Nguyển Tường Tam và Khái Hưng phải bỏ rơi Dân Chính đảng, mà nhảy vào Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Vũ Hồng Khanh. Lúc bấy giờ người Nhật đã bại trận và Trung Hoa Quốc Dân Ðảng của Tưởng Giới Thạch đang lên chân.

    Ngày 8- 12- 1941, Mỹ chính thức tuyên chiến với Nhật. Nhưng ngoài những phần tử hoạt động Cách mạng, đời sống dân chúng An nam ở khắp ba Kỳ rất là yên tỉnh. Người ta theo dõi các chiến thắng của Nhật ở Pearl Harbor, HongKong, Manila, Singapore. Nhiều người phục, nhưng không mấy ai tin tưởng cuộc chiến thắng sẽ lâu dài.

    Trừ những đồng bào theo đạo Cao Ðài ở Trung Kỳ và Nam Kỳ tin tưởng rằng Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể (rể của Nhật hoàng) sẽ là vị Cứu quốc tương lai của Việt Nam, còn thì đại đa số dân chúng vẫn cách biệt quân đội Mikado và giữ thái độ trung lập gần như hoài nghi, đối với Nhật bản.

    Ðời sống vật chất của dân chúng trong hai năm 1940 và 1941 có phần khổ cực hơn trước chiến tranh, do sự chiến đóng của 35000 quân nhân Nhật mà chính quyền Pháp ở Ðông dương phải lo tiếp tế đầy đủ lương thực. Lính Nhật ăn khắc khổ và không biết ăn ngon, nhưng họ ăn dữ tợn, ăn gấp hai người mình.

    Con gái An nam lấy Nhật cũng không có nhiều, trừ một thiểu số -  rất ít -  bọn gái điếm, hoặc gái nhẩy. Có lẽ một số phụ nữ Việt Nam thường hay ăn hiếp những người đàn ông hiền lành, mà lại ngán người tàn bạo, nhất là người Nhật.

    Với những Quân Nhân và Sĩ Quan Nhật, bộ tịch hung dử luôn luôn đeo gươm dài lê thê bên cạnh mình, con gái An nam khiếp sợ, không dám làm thân.

    Cho nên sau 1945, Nhật về xứ, số con nít An nam lai Nhật không có bao nhiêu.

    CHƯƠNG 61

    1942 -  1943

    -  Kampétai

    -  Khái Hưng – Nguyễn Tường Tam – Vũ Đình Duy – Trần Trọng Kim – Dương Bá Trạc.

    -  Hai chủ quyền Nhật – Pháp.

    -  Phong trào” Thanh Niên Thể Dục Thể Thao" của Ducoroy.

    -  Decoux

    -  Cái bọt xà- bông.

    Tuấn và một số bạn của Tuấn đều bị Kempétai (Hiến binh Nhật) bắt vì tư tưởng chống Nhật, do một tên tình báo Nhật chỉ dẫn.

    Trụ sở Kampétai là một cơ sở của hảng dầu Shell bị quân đội Nhật Hoàng trưng dụng, ở góc hồ Bẩy Mẫu, gần ngôi chùa Sư Nữ, phía sau khu hội chợ Hà Nội, trên đường Halais nối dài đầu đường Khâm Thiên quanh co xuống đường Chợ Hôm.

    Bên trong sở Kampétai, có một phòng giam bít bùng kín mít, không có cửa. Tù nhân bị đưa vào đó phải bò bốn chân chui qua cái lỗ vuông mỗi bề độ 4 tấc, rộng bằng một cái chuồng chó. Phía mặt tiền, đóng một dọc song gỗ vuông để lọt vào đôi chút ánh sáng lờ mờ. Nơi hành lang trước chuồng tù, một tên lính Nhật mang kiến trắng, đeo gươm, tay cầm roi cá đuối. Trông gương mặt hắn còn trẻ, vào khỏang 21, 22 tuổi, có vẻ thông minh, nhưng hắn rất dữ. Một thằng tù nào không ngồi yên trong chuồng, là bị hắn thò roi qua song gỗ, quất trót trót lên đầu.

    Tuấn và ba người bạn đồng chí của Tuấn bị nhốt trong đó, mỗi đứa bị đặt ngồi mỗi góc. Người thứ tư, có một nét mặt như người Triều Tiên, ngôì trong góc cuối cùng.

    Trên trần, treo một ngọn đèn điện 25 watts bọc vải đen theo biện pháp chiến tranh hồi đó.

    Mỗi bửa ăn trưa và tối, một người lính Nhật đem đẩy vào cổng chuồng một mâm gỗ đựng bốn bát cơm có sẵn đồ ăn, mỗi người lấy một bát và một cái muỗng. Tuấn chẳng biết là thức ăn gì, nhưng nuốt vào sặc mùi dầu, ăn hôi rình. Phải ăn cho kỳ hết. Tuấn bỏ mứa một lần nửa bát, bị thằng lính Nhật ở ngoài thò roi vào quất trên đầu ba roi rỉ máu. Tuấn mửa hết cả ra chiếu.

    Bị giam trong chuồng chó 15 hôm. Tuấn bị dẫn ba lần lên lầu hai, vào một phòng riêng để Nhật lấy khẩu cung.

    Một sĩ quan Nhật đeo trên cánh tay một băng trắng viết chữ đỏ bằng Hán tự” Hiến Binh Ðội Trưởng”, có một người An nam làm thông ngôn. Tên thông ngôn cũng mặc quân phục Nhật, tuy hắn là dân sự. Người thời bấy giờ có đặt một danh từ riêng để chỉ bọn thông ngôn và tình báo cho Nhật là” Jap- lô canh”. Tiếng ấy thông dụng đến cả giới bình dân An nam, vì bọn làm mật vụ cho Nhật, và làm tình báo viên, lúc bấy giờ rất đông. Hầu hết là bọn thất nghiệp, trí thức dở mùa, xu thời, đón gió.

    Người điềm chỉ cho Kampétai bắt Tuấn là một cậu” văn sĩ ba xu” viết truyện kiếm hiệp cho một vài nhà buôn chuyên môn xuất bản loại chuyện đó, bán mỗi cuốn 3 xu.

    Sau ba lần lấy khẩu cung, Tuấn thoát chết nhờ đêm Ba mươi Tết tối trời (Tết năm Nhâm Ngọ,1942), trong một trường hợp phi thường, và trốn được ra ngoài. Nhưng ngay sáng hôm đó, Tuấn bị bắt lại trước đền Trấn Quốc, trên bờ Hồ Tây, đến nhà thờ”Ðức Thánh Ðồng Ðen”.

    Lần này, Tuấn bị Mật thám Pháp bắt và bị đày đi an trí tại một nơi rừng thiêng nước độc của dân thiểu số Radhé thuộc huyện Củng Sơn, tỉnh Phú Yên, Trung kỳ.

    Nơi nhà giam này, Tuấn gặp nhiều người tù khác, quê quán Thanh Hoá đến Phan Rang, và thuộc nhiều đảng phái khác nhau: Cộng sản độ 70 người, trong số đó có Hà Huy Giáp, Buì Công Trừng, Hồ Tùng Mậu, Lưu Quí Kỳ, Trần Công Khanh, Trần Đình Tri v.v…

    Ðảng Ngô Ðình Diệm (Không phải Việt Nam Phục Quốc Hội của Cường Ðể, tuy rằng Ngô Đình Diệm là đại diện của Cường Ðể ở Trung Kỳ cũng như Vũ Đình Duy ở Bắc kỳ và Trần Văn An ở Nam Kỳ), 4 hay 5 người, trong đó có Lương Duy Ủy, Võ Như Nguyện, Linh mục Hiền (thưòng gọi là Cha Hiền, bạn của Cha Ngô Đình Thục).

    Cao Ðài độ vài chục người có Trần Văn Chí, Trần Duy hầu hết là lãnh tụ Cao Ðài ở Quảng Nam, Quảng Ngãi.

    Trong thời gian Tuấn bị bắt lần thứ hai, và bị giam ở Ty Mật thám Hà Nội, người Nhật đã chiếm đóng toàn cõi Ðông dương, từ Bắc kỳ vào Nam kỳ, qua Ai lao, Cao Miên. Ðối với Pháp mà theo Hiệp Ðịnh Robin- Tojo ký ở Tokyo, Nhật vẫn tôn trọng chủ quyền Pháp ở Ðông dương, và quân đội của Nhật hoàng chỉ là thượng khách, được chính quyền thuộc địa Pháp rất kính nể, ít nhất cũng ở ngoài mặt.

    Nhưng trên thực tế thì quân đôị Nhật vẫn tự coi như là chủ nhân ông, và họ lấn áp dần dần chủ quyền người Pháp ở An nam trên nhiều phương diện, nhất là về quân sự, tuyên truyền và kinh tế.

    Tuy bị giam ở Lao Mật thám Hà Nôị, trước khi đi an trí, nhưng Tuấn cũng như 100 anh chị em khác bị câu lưu nơi đây, thỉnh thoảng được lén lút coi vài tờ nhất báo ở Hà Nội, nhất là hai tờ Ðông Pháp và Tin Mới do một vài người lính có cảm tình hoặc người thợ nề, thợ mộc, đút dấu cho.

    Tuấn say mê theo dõi những tiến triển của Chiến Tranh Nhật- Mỹ ở Thái Bình Dương, và Ðức, Ý, Anh, Pháp ở Tây Âu. Nhờ xem lén các báo, Tuấn cũng dò biết được tình hình tổng quát trong nước về mọi sinh hoạt hàng ngày.

    Có triệu chứng kỳ lạ, là số người Việt Nam thân Nhật, và theo Nhật, không nhiều.

    Ðại đa số thanh niên trí thức, sinh viên, học sinh, không vồn vả với người Nhật, mặc dầu Nhật đang oanh liệt vì chiến thắng khắp nơi.

    Những bậc trí thức đàn anh đáng kính như Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, những bạn làng văn, làng báo có uy tín như Vũ Đình Duy, Khái Hưng, Nguyễn Tường Tam, đã hoàn toàn đi hẳn với Nhật. Người ta được biết rằng Trần Trọng Kim và cựu Cử nhân Hán học Dương Bá Trạc đã được người Nhật lén đưa vào Nam Kỳ ở nhà hàng Dainan Koosi của nhà đại thương gia kiêm gián điệp Mathushita ở Saigon, và từ đây hai ông được đưa qua Singapore với Trần Văn Ân.

    Nhiều anh em nhà văn đồn rằng họ đã thấy tận mắt, Vũ Đình Duy và Nguyễn Tường Tam mặc quân phục Nhật đeo lon sĩ quan Nhật, mang gươm, đeo kính trắng, ngồi trong xe hơi Nhật, chạy qua một vai đường phố lớn ở Hà Nội, nhất là phố Hàng Ðẩy, nơi đây có Tổng Hành Dinh Quân Ðội Nhật Hoàng.

    Nhưng” DÂN CHÍNH ÐẢNG” thân Nhật của Khái Hưng và Nguyễn Tường Tam không quy tụ được giới thanh niên trí thức và không tuyển mộ được bao nhiêu đảng viên.

    Giới trí thức và trẻ ở Hà Nội, cũng như ở Huế và Sài Gòn, đều dè dặt đứng ngoài, không hăng hái tán thành chủ trương”Ðại Ðông Á” của Nhật, mặc dầu Nhật tuyên truyền rầm rộ và công khai trước những con mắt lo sợ của người Pháp ở Ðông dương.

    Dân chúng thì hoàn toàn thờ ơ, lo làm lụng, ăn chơi, như thể không cần biết cuộc chiến tranh như thế nào, và tương lai sẽ ra sao. Các lớp thanh niên Nam Nữ học sinh Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam Kỳ đều bị thu hút vào phong trào Thể dục và Thể thao của Toàn quyền Phó Ðô Ðốc Hải quân Jean Decoux.

    Tuấn rất ngạc nhiên nhận xét sự kiện sau đây:

    Trong những năm 1942- 43- 44, bên Tây Âu, lãnh thổ Pháp bị quân đội Hitler chiếm đóng hơn một nửa, chỉ còn một nửa ở miền Nam để cho chính phủ bù nhìn Pierre Laval và của Thống chế Pétain cai trị dưới quyền kiểm soát của Ðức, bên Ðông Nam Á thì quân đôị Nhật hoàng làm bá chủ thật sự trên đất Việt Nam, chỉ để cho chính quyền bảo hộ Pháp một vài” chủ quyền” mong manh trên nguyên tắc, thế mà người Pháp vẫn dùng đủ các mánh lới lôi kéo được dân An nam, và cả thế hệ thanh thiếu niên An nam về phía họ.

    Họ dùng cái thần chú” Thống chế Pétain” với ba tiêu đề” CẦN LAO – GIA ÐÌNH -  TỔ QUỐC” (Travail – Famille – Patrie), để mê hoặc đầu óc và đầu độc tim gan của một dân tộc 25 triệu người, kể cả thế hệ thanh niên tràn đầy nhựa sống.

    Tuấn không hiểu được hiện tượng phi lý đó.

    Nhưng, hai tay bị xiềng trong khóa sắt, Tuấn bước vô lao tù, mắt vẫn nhìn thẳng phía trước với lòng tin tưởng rằng hiện tượng phi lý đó sẽ tan như bọt xà- bông.

    CHƯƠNG 62  

    1944 – 1945

    -  Hai tờ nhựt báo Sài Gòn trong nhà tù.

    -  Chiếc máy bay bí mật.

    -  Tình hình biến chuyển

    -  Giải phóng.

    -  9/3/1945: Chấm dứt cuộc đô hộ Pháp.

    -  Việt Nam”Ðộc Lập” của Nhật Bổn.

    -  Bom nguyên tử Mỹ.

    -  Nhật đầu hàng.

    Trại giam tù cách đồn lính Khố xanh (Garde Indochinois) 100 thước, do một viên đồn trưởng Pháp chỉ huy. Hắn là một sĩ quan già có đánh giặc ở Syrie- Liban hồi Ðệ Nhất Thế Chiến, và sang Việt Nam được làm” Giám binh Lính Khố Xanh” từ lâu năm.

    Cũng như đa số người Pháp theo chính sách tùy thời ở Ðông dương lúc bấy giờ, viên Ðồn trưởng nầy suy tôn Thống chế Pétain là anh hùng cứu quốc của nước Pháp, và chửi bới De Gaulle là” phản quốc”, và phe Ðồng Minh Anh- Mỹ là kẻ thù tàn bạo của nhân dân Pháp.

    Trong trại giam, trừ một thiểu số Cao Ðài và đảng Ngô Đình Diệm, còn thì tất cả tù nhân khác đều chống Nhật, và tin tưởng chắc chắn rằng phe Ðồng minh sẽ thắng trận. Nhưng toàn thể tù nhân đều chống Pháp, và coi Thống chế Pétain chỉ là một nhân vật bù nhìn, làm tay sai cho Hitler, không hơn không kém.

    Tuy nhiên, muốn đời sống trong lao tù được yên ổn, muốn tránh mọi sự đàn áp và sát hại của viên Ðồn trưởng Pháp và của 150 lính Khố xanh Rhadés triệt để trung thành với y, toàn thể tù nhân đã bảo với nhau cứ giả cờ”ngoan ngoản“ ngoài mặt, đừng biểu lộ một chút gì chống lại chính sách của Tây ở Ðông dương. Trái lại mỗi khi viên Ðồn trưởng hay lính hỏi, thì bất cứ người tù nhân nào cũng tán thành ngoan ngoãn Thống chế Pétain …Nói cho qua chuyện, để Tây đừng để ý kiếm chuyện làm hại tù.

    Hậu quả bất ngờ của chủ trương dối trá đó, là viên Ðồn trưởng già cho phép tù nhân được đọc hai tờ báo Saigon mỗi ngày: tờ báo Pháp La Dépêche và tờ Ðiện Tín. Chính y gởi mua dài hạn hai tờ báo ấy ở Saigon do ngân sách của nhà tù đài thọ.

    Nhờ hai tờ nhật báo, tù nhân được theo dõi hằng ngày những tin tức khá đầy đủ và khá sốt dẻo về chiến cuộc thế giới, cũng như về tình hình sinh hoạt chung trong nước.

    Ở mặt trận Tây phương, Quân Ðội Ðồng Minh Anh- Mỹ đã đổ bộ trên đất Pháp nơi hai bờ biển Normandie và Provence, và đang ào ạt tiến sâu vào nội địa, sắp vượt qua sông Rhin và dãy núi Alpes. Ở mặt trận Trung Âu, Nga cũng đang chọc thông các phòng tuyến Ðức và tiến vào Ba Lan …

    Ở mặt trận Thái Bình Dương, quân Mỹ của Mac Arthur đã thắng trận ở Corregidor, biển San Hô, đảo Saipan, và đổ bộ lên đất Phi- Luật- Tân.

    Những tin chiến thắng sấm sét của phe Ðồng Minh mỗi ngày dồn dập, phe phát- xít Ðức – Ý -  Nhật mỗi ngày thất bại thê thảm, làm phấn khởi tinh thần của tù nhân hy vọng chắc chắn vào ngày giải phóng không còn xa lắm nữa.

    Ngoài những tin chiến tranh, Tuấn còn đọc hết những tin lặt vặt hàng ngày, cho đến những quảng caó, những dòng rao vặt, để tìm hiểu tất cả những khía cạnh sinh hoạt của đồng bào về mọi phương diện.

    Một buổi chiều, vào khoảng 6 giờ, một lúc sau khi mặt trời lặn, tù nhân còn đang chơi ngoài sân, thì một chiếc máy bay Mỹ, U.S Air Force, bỗng từ hướng đông vụt bay qua, tiếng động cơ rầm rầm, sát trên nóc đồn lính Khố Xanh và trên trại giam. Tuấn vừa ngước đầu ngó lên thì phi cơ đã biến mất về phía rừng Cheo Reo, ở hướng Tây.

    Chiếc phi cơ bí mật gây xúc động cho cả tù lẫn lính Rhadés, còn viên Ðồn trưởng Pháp thì ngơ ngác lo sợ. Y định báo tin cấp tốc cho Công sứ Pháp ở Sông Cầu biết. Nhưng suy nghĩ một đêm, sáng hôm sau, y hỏi ý kiến một số tù nhân.

    Theo Tuấn, thì có lẽ chiếc phi cơ Mỹ từ Thái Bình Dương bay vào để thả dù tiếp tế khí giới cho những nhóm người kháng chiến Ðồng Minh bí mật hoạt động biên giới Việt-  Miên – Lào.

    Giới Pháp và Cách mạng” An nam”đều biết rằng vào giữa năm 1944, Ðại tướng Pháp Mordant, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Pháp ở Ðông dương (đã xin từ chức), và Trung tướng Aymé, Phó tư lệnh lên thay thế Mordant, đang âm mưu tổ chức” Lực lượng kháng chiến chống Nhật” bí mật ở các vùng rừng núi Bắc kỳ, Nam Trung kỳ và Nam kỳ, ở biên giới Việt Miên Lào.

    Theo lệnh của De Gaulle, Ðô Ðốc Toàn quyền Decoux được bí mật loan báo về phong trào kháng chiến, nhưng bắt buộc phaỉ làm ngơ. Vả lại, tình hình chính trị của nước Pháp đã biến chuyễn. De Gaulle đã vào Paris nhờ Quân đôị Ðồng minh giải phóng, và lập” Chính phủ lâm thời Cộng Hoà Pháp” giữa sự hoan hô cuồng nhiệt của dân chúng.

    Quân đội Hitler baị trận đã bị đánh bạt ra khỏi lãnh thổ Pháp. Thống chế Pétain bị quân đội Ðức bắt cóc đem qua Ðức lập chính phủ bù nhìn lưu vong. Ông gìa khốn đốn đã mất hết uy tín đối với nhân dân Pháp, chỉ còn như một món đồ chơi bị gẫy nát, vô dụng, trong tay của tay lãnh tụ Nazi khát máu điên khùng.

    Chính phủ Vichy không còn nữa. Chính quyền thuộc địa Pháp ở Ðông dương cũng mặc nhiên thay đổi chiều hướng, và dù muốn dù không cũng phải tự bắt buộc nhìn nhận De Gaulle, lãnh tụ của nước Pháp vừa giải phóng.

    Viên đồn trưởng trại giam, cũng thay đổi lập trường tức khắc. Hắn ra lịnh cho lính Rhadés và tù nhân phải hạ bệ những bức ảnh của Pétain, và treo ảnh De Gaulle lên thay thế. Thích thú nhất là nghe hắn trở giọng hoan hô De Gaulle, nhiệt liệt ca tụng” vị cứu quốc chân chính” của nước Pháp, và không nhắc đến tên Thống chế Pétain nữa. Trên thực tế, sự thay đổi lập trường đó không khó khăn gì, vì màu cờ ba sắc của Pháp và bài quốc thiều La Marseillaise vẫn giữ nguyên vẹn.

    Ðồng thời viên đồn trưởng cũng vui mừng báo tin cho tù nhân biết y đã nhận được công văn của Toà Khâm Sứ Huế ra lịnh thả tự do cho một số tù nhân. Tuy nhiên, sự phóng thích sẽ thực hiện từng đợt, cách nhau vài ba tháng.

    Ðợt đầu có 20 người nô nức ra về. Toàn thể tù nhân sắp hàng trước nhà tù, hát bài

    “Ce n’est qu’un au revoir” để tiễn biệt những người bạn đồng lao may mắn được ân xá trước tiên.

    Ðợt thứ hai có 15 người, cũng ra đi với nghi lễ thân mật và cảm động ấy.

    Còn lại 70 người, Tuấn sốt ruột lắm vì viên đồn trưởng cho biết những người có hồ sơ nặng nhất sẽ bị ở lại cho đến ngày Chiến Tranh chấm dứt ở Ðông Dương.

    Ðến chừng nào? Tuấn còn bị giam giữ với 70 người ở lại.

    Mãi ba tháng sau, viên đồn trưởng mới được lịnh phóng thích đợt ba, trả tự do cho 25 người. Tuấn vui mừng nhảy nhót khi thấy tên mình trong danh sách hồi hương.

    Về đến tỉnh nhà đầu tháng 2- 1945, Tuấn còn bị lính của sở Mật thám Pháp và của Công Sứ Pháp ở địa phương cho được về làng quê quán, nhưng bị quản thúc ở đấy cho đến hết chiến tranh. Muốn đi đâu phải xin phép ông …Lý trưởng.

    Cũng may, Lý trưởng là người bà con trong họ, Tuấn đi chơi thong thả, tự do, khắp các làng, các tổng, huyện, và ở cả tỉnh thành.

    Tuấn vô cùng ngạc nhiên nhận thấy, trong các cuộc tiếp xúc thân mật với đủ hạng người trong các giới đồng bào, đa số dân chúng như còn tin tưởng rằng nước Pháp đã nhờ Ðồng minh giúp cho thắng trận chắc sẽ còn ở lại Ðông dương, như sau thời Ðệ Nhất Thế Chiến 1914- 1918.

    Ðến cả những phần tử cách mạng quốc gia, và cộng sản cũng có ý nghĩ lo ngại như thế. Hầu hết dân chúng đều tin rằng Nhật sẽ bại trận. Ðồng minh sẽ đổ bộ ở Trung, Bắc, Nam kỳ, và Nhật sẽ đầu hàng.

    Ðã mấy tháng rồi, không quân Ðồng minh đã làm chủ vòm trời An nam, và phi cơ Mỹ gọi là” pháo đài bay B- 19” và Liberators từ Thái Bình Dương cứ bay vào ném bom mổi buổi sáng, mỗi buổi chiều, khắp các ga xe lửa lớn, và các nơi trong tỉnh có Nhật chiếm đóng rôì bay trở ra biển, mà không hề có phản ứng của cao xạ phòng không Nhật.

    Hằng ngày đọc các báo thông tin ở Sài Gòn và Hà Nôị cũng thấy tình hình Nam Bắc kỳ không khác gì ở Trung kỳ. Phong trào” Thanh niên và Thể dục” của Ðại tá Ducoroy do Toàn quyền Decoux phát động từ năm 1941, vẫn tiếp tục bành trướng khắp cõi Ðông dương.

    Tuấn đã chứng kiến một cuộc luân phiên rước đuốc từ Hà Nội vào Saigon. Bốn thanh niên lực sĩ An nam chạy ngang qua tỉnh nhà, trên đường ái quan hồi tám giờ tối tháng 2- 1945, giữa một đám thanh niên và dân chúng đứng hai bên đường hoan hô và cổ vỏ.

    Học sinh nam nữ các trường vẫn chăm chỉ đi học. Tình hình thương mãi ở các thành thị vẫn được ổn định, mặc dầu nhiều hàng hóa bị khan hiếm, do chiến tranh gây ra, và nhất là do sự chiếm đóng của trên 35.000 binh sĩ Nhật trên lãnh thổ Việt Nam.

    Ở hương thôn, đâu đâu cũng yên tĩnh. Nhiều nhà có cảm tưởng rằng tuy bị Nhật uy hiếp, chính quyền Pháp ở Ðông dương vẫn được củng cố mỗi ngày mỗi mạnh và sẽ có thể tiếp tục” bảo hộ” xứ An nam lâu dài sau khi”Ðồng minh Anh - Mỹ”đánh bại quân Nhật, buộc Nhật phải xếp giáp đầu hàng.

    Bỗng nhiên, 8 giờ tối ngày 9- 3- 1945 tiếng súng nổ ầm ầm ở ngay tỉnh lỵ. Dân chúng không hiểu gì cả, chỉ thất lính Nhật đột ngột di chuyễn rầm rộ trong thành phố, và đánh các đồn lính Khố xanh, Khố đỏ, và lính Lê dương của Pháp.

    Sau vài tiếng đồng hồ, tiếng súng im bẵng. Lính Nhật reo cười náo động, la hét om xòm. Bấy giờ dân chúng An nam mới biết rằng Nhật đã đánh Pháp, và làm chủ tất cả các đồn lính. Pháp đã thua cuộc, nhiều lính Pháp chết.

    Tất cả người Pháp, từ viên Công sứ, viên Giám binh, viên Chánh mật thám đến người Pháp cuối cùng đều đã bị Nhật bắt giam hết, hồi 11 giờ đêm.

    Chính quyền Pháp ở An nam hơn nửa thế kỷ bổng dưng không còn nữa.

    Sáng hôm sau, dân chúng An nam được người Nhật cho hay nước An Nam đã Ðộc Lập.

    Mấy hôm sau, Tuấn đọc bản” tuyên bố” sau đây được dán khắp nơi, in vừa ráo mực:

    “ Xét tình hình thế giới, và tình hình riêng của Á Ðông, chánh phủ Việt Nam tuyên bố chính thức rằng, bắt đầu từ ngay hôm nay hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp đã được hủy bỏ, và nước Việt Nam sẽ tự sức dùng những phương tiện riêng, để phát triển cho xứng đáng với địa vị một quốc gia độc lập, và sẽ theo đường lối trong bản tuyên ngôn chung của Ðông Nam Á, và gia nhập vào trật tự chung của Ðại Ðông Á.”

    Chính phủ Việt Nam tin tưỏng ở Nhật bản, và cương quyết hợp tác với nước Nhật để đạt mục đích trên.

    Khâm Thử

    Huế, ngày 27 tháng Giêng, Bảo Ðại năm thứ 20 (11- 3 - 1945)

    Bảo Ðại.

    Dưới ký tên toàn thể Cơ Mật Viện gồm 6 vị Thượng Thư đứng đầu là Thượng Thư Bộ Lại: Phạm Quỳnh.

    Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, và một vài thành phố lớn, do sự sách động của nhóm thân Nhật và tay sai của Nhật (Hà Nôị có nhóm Nguyễn Văn Cầm, Sài Gòn có bà Song Thu, Trần Quang Vinh v.v….)) một số người xuống đường biểu tình rầm rộ để” tri ân quân đội Nhật hoàng”. Ngoài ra, quảng đại quần chúng Trung, Nam Bắc đều tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với phong trào”độc lập” do Kampétai và Quân đội Nhật gây ra.

    Ở các hương thôn, lý trưởng được lịnh tổ chức dân chúng mừng ngày độc lập, tại đình làng.

    Tuấn nhận được giấy của Lý trưởng mời đến tham gia lễ Ðộc Lập lúc 9 giờ sáng ngày 17 tháng 3 năm 1945. Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông.

    Dân chúng chẳng ai đến cả, chỉ trừ một số chức việc có phận sự trong làng.

    Ðến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời” tuyên cáo Ðộc Lập. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình ra về sau khi dọn dẹp.

    Tuấn mượn chiếc xe máy của người em trong làng, cởi chạy khắp các làng tổng kế cận, và các huyện sở, để xem xét tình hình dân chúng. Ðâu đâu cũng thản nhiên, không có một cuộc biểu tình nào của đồng bào mừng lễ Ðộc Lập. Dò hỏi dư luận chung của các giới nhân dân, đều được họ cho rằng, đây chỉ là lễ Ðộc Lập giả hiệu của Nhật bổn. Ðồng bào không mấy hoan nghênh vì chưa phải là”độc lập” thật sự.

    Ngày 19- 3- 1945, theo lời khuyên của Yokoyama, Ðại sứ Nhật ở Huế, Bảo Ðại giải tán Nội Các của Phạm Quỳnh.

    Mãi một tháng sau, ngày 19- 4- 1945, Nội Các Trần Trọng Kim mới thành lập xong, với những thành phần hoàn toàn mới:

    Thủ Tướng: Trần Trọng Kim

    -  Tổng trường Nội Vụ: BS. Trần Ðình Nam

    -  Ngoại Giao: LS. Trần Văn Chương

    -  Giáo dục: GS. Hoàng Xuân Hãn.

    -  Tư Pháp: LS. Trịnh Ðình Thảo

    -  Tài Chánh: LS. Vũ Văn Hiền.

    -  Kinh Tế: BS. Hồ Tá Khánh.

    -  Tiếp Tế: BS. Nguyễn Hữu Thi

    -  Công Chánh: KS. Lưu Văn Lang

    -  Y Tế: BS. Vũ Ngọc Anh

    -  Thanh Niên: LS. Phan Anh.

    Hai ông Kinh tế và Công chánh được mời, đã nhận lời miệng, nhưng rút cuộc không tham gia. Bảo Ðại được chính thức tôn lên ngôi” Hoàng Ðế” Việt Nam. Lần đầu tiên từ ngày Tây đô hộ, danh từ” Việt Nam”được chính thức công dụng, và danh từ

    “Annam”được bải bỏ.

    Việt Nam được thống nhất trên nguyên tắc, và Tuần Vũ Phan Kế Toại được cử làm Khâm Sai Bắc kỳ, nhà báo Nguyễn Văn Sâm ở Sài Gòn làm Khâm sai Nam kỳ. Cả hai đều về Huế nhận lãnh sắc ấn của Bảo Ðại.

    Tuy nhiên, trên thực tế hành chánh, thì người Nhật vẫn đặt Minoda ở Saigon làm Thống Soái Nam kỳ, thay thế vị Thống soái Pháp, Yokoyama ở Huế làm Khâm sứ Trung kỳ thay thế Khâm sứ Pháp, Tsukoyamoto ở Hà Nội làm Thống Sứ Bắc kỳ, thay thế Thống sứ Pháp, kiêm hiệu chức Toàn Quyền Ðông Dương.

    Nhiều đảng phái mới cũng bắt đầu xuất hiện và hoạt động mạnh mẽ công khai dưới sự che chở của Nhật.

    Ở Hà Nôị, đảng phái Ðại Việt Quốc Xã thu hút đa số phần tử cách mạng quốc gia.

    Ở Saigon, có hai đảng Phục Quốc và Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập (Trần Quang Vinh, Hồ Văn Ngà v.v…) Ở Huế, đảng Tân Việt Nam. Các đảng này đều ủng hộ Nội Các Trần Trọng Kim, và được Nhật khuyến khích.

    Ở tù về, Tuấn chưa muốn ra hoạt động trong tình thế rộn rịp và chụp giựt đó, dưới bóng cờ Mặt Trời và cờ chữ Ly. Vả lại, Tuấn được viên Lý trưởng cho biết tin mật rằng người Nhật còn đang theo dõi Tuấn, và Tuấn nên đề phòng.

    Vì lẽ, Tuấn ít khi ở nhà, và ban ngày chàng cũng đã chuẩn bị nhiều nơi và những phương tiện để thoát ly nếu có biến cố xẩy ra.

    Tuấn được gặp hai người bạn cách mạng ở đồng tỉnh, nhưng ở cách xa làng của Tuấn. Một người trước kia là chủ bút một tờ báo lớn ở Sài Gòn, và theo nhóm Ðệ Tứ Quốc Tế của Tạ Thu Thâu.

    Sau ngày 9- 3- 1945, nghe tin Tuấn ở tù về, một đêm anh ta xuất hiện dưới mái nhà tranh của Tuấn ẩn nấp, và đề nghị Tuấn tham gia” Mặt Trận Phản Ðế”. Suốt một đềm bàn luận ráo riết về các khía cạnh vấn đề, đến hừng đông, hai người ăn cháo gà, rồi từ gĩa nhau vui vẻ. Nhưng Tuấn đã cương quyết từ chối vào” Mặt Trận” vì nó là một biến thể của Ðệ Tứ Quốc Tế.

    Về sau này, Tuấn ở Saigon nghe tin Tạ Thu Thâu bị Việt Minh ám sát ở Quảng Ngãi, hồi tháng 9-  1945, chính là lúc anh đi trên đường đến nhà người bạn đồng chí của” Mặt Trận Phản Ðế”ở Thi- Phổ cùng làng với Phạm Văn Ðồng.

    Một đêm khác, cũng sau khi có Nội Các Trần Trọng Kim, Tuấn được tiếp xúc với Võ Tòng, nhà cách mạng ở Xiêm về. Nhà anh này ở cùng Huyện cùng Tổng với Tuấn, nhưng cách xa làng Tuấn đến vài chục cây số, đi loanh quanh theo các hương lộ, Anh này lại muốn rủ Tuấn tham gia vào” Mặt Trận Việt Minh”. Mặt trận này, tuy còn ở trong vòng bí mật hoàn toàn, nhưng đã được tuyên truyền kín đáo và mạnh mẽ khắp các thôn quê trong tỉnh. Mặc dầu có cảm tình sâu đậm với nhau vì lý tưởng cách mạng, Tuấn vẫn từ chối tham gia vào Mặt Trận V.M., Võ Tòng bảo:

    -  Lúc này cần phải đoàn kết chống thực dân.

    -  Ðồng ý về điểm đoàn kết chống thực dân, nhưng tôi quyết giữ vững lập trường quốc gia độc lập.

    Gà gáy sáng, hai người giã từ nhau, sau một đêm thảo luận cặn kẻ, và không gặp lại nữa.

    Ở Sài Gòn, Tuấn được tin Võ Tòng làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chánh Huyện rồi Tỉnh, dưới thời Việt Minh năm 1945- 1946, rồi sau đó chết không biết vì lý do gì. (Sau này Tuấn được tin anh bị Việt Minh giết).

    Mỹ tiếp tục ném bom khắp các căn cứ Nhật ở Việt Nam từ Bắc vô Nam. Tháng 4, tháng 5 - 1945, Sài Gòn bị những trận bom Mỹ kinh khủng nhất, do những chiếc” Liberators” kếch xù trút xuống ào ạt nhiều nơi trong thành phố.

    Phi cơ Mỹ làm bá chủ trên không phận Việt Nam. Sức phản ứng của Không quân và Phòng không Nhật hầu như càng ngày càng kiệt quệ.

    Bổng ngày 2 tháng 8 - 195, vào khoảng 5 giờ chiều, một chiếc máy bay từ hướng Bắc trực chỉ vào Nam, bay ngang qua các làng dọc theo dãy Trường Sơn, bay khá thấp và …rải truyền đơn.

    Ðồng bào thôn quê xôn xao, chạy khắp nơi tìm lượm những truyền đơn ấy. Tuấn cũng hồi hộp, không làm sao tìm xem được truyền đơn gì, vì máy bay rải quá ít, chỉ thấy lưa thưa vài chục tờ bị gió đưa phất phơ bay lạc vào rừng.

    Mãi đến 7, 8 giờ tối, nhiều người ở khắp nơi các làng xa xôi trong huyện, chạy đến nhà Tuấn cầm truyền đơn của họ lượm được rất khó khăn, đưa hỏi Tuấn:

    -  Thầy Sáu, đọc coi truyền đơn gì đây nè?

    Trên một mãnh giấy trắng lớn bằng bàn tay, in hai thứ chữ, một bằng Anh ngữ, một mặt là Nhật ngữ.

    Anh ngữ viết đại khái: “Nhân dân Việt Nam hãy chuẩn bị: Nội trong tuần này Ðồng minh sẽ đổ bộ để giải phóng nước Việt Nam. Quân đôị Nippon hãy đầu hàng sớm ngày nào, sẽ bớt chết chóc sớm ngày đó. Không đầu hàng, các anh sẽ bị tiêu diệt hết”.

    Truyền đơn không có ký tên, nhưng ai cũng hiểu rõ là của ”Ðồng Minh” và chiếc phi cơ” pháo đài bay B19” bay khá thấp để rải truyền đơn, mang phù hiệu U.S Air Force.

    6- 8- 1945.

    Tin thành phố Hiroshima của Nhật bị một thứ bom mới vô cùng khủng khiếp làm tiêu tan hết, lại do chính một vài người lính Nhật loan truyền. Mấy hôm sau, đọc các báo nói đại khái rằng loại bom đó tên là” Bom Nguyên Tử ".

    Ngày 19- 8- 1945, được tin Nhật đầu hàng vô điều kiện, Tuấn không hành lý, hai tay không, với 100 đồng bạc trong túi, lên xe lửa vô Sài Gòn...

    HẾT.

    Nguồn: Tuấn, chàng trai nước Việt. Tiểu thuyết {tự truyện} của Nguyễn Vỹ. In lần đầu năm 1970. NXB Văn học, quý 4- 2006.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập45,817,499

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/