Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,787,637

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tác giả

​Tuân Nguyễn

Tuân Nguyễn

Nhà thơ Tuân Nguyễn

(1933-1983)

là một thi sĩ, nghệ sĩ ngâm thơ, dịch giả Việt Nam. Dù được xem là người "...không có cống hiến gì đặc biệt", tuy nhiên ông được nhiều người trong giới văn nghệ sĩ đánh giá là "sống đẹp cho đến chết nên được bạn bè tôn vinh".

Tên thật là Nguyễn Tuân, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1933, quê quán tại làng Lại Thế, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thuở nhỏ, có thời gian theo cha làm nghề kiểm lâm ra sống ở Quảng Bình; qua đời ngày 9 tháng 5 năm 1983 (nhằm ngày 27 tháng 3 năm Quý Hợi).

Thời niên thiếu, ông theo học trường dòng Pellerin ở Huế, tốt nghiệp Tú tài 2, thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, lại biết cả chữ Hán. Năm 1949, ông thoát ly gia đình tham gia Đoàn học sinh kháng chiến Huế khi mới 16 tuổi. Năm 1950, ông vào chiến khu tham gia Vệ quốc đoàn, dưới sự bảo vệ của Phùng Quán ông đã được miễn làm những nhiệm vụ nguy hiểm tính mạng, sau đó tham gia tại chiến trường Lào.

Sau năm 1954, ông xuất ngũ, theo học khoa Văn khoá I, Đại học sư phạm Hà Nội. Năm 1957, ông tốt nghiệp ra trường làm giáo viên ở Trường học sinh miền Nam tại Hà Đông.

Ngay từ thuở nhỏ, ông được bạn bè đánh giá là một người mộng mơ, lãng mạn, có năng khiếu văn chương. Khi trưởng thành, thấy tên mình trùng với nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả của Vang bóng một thời, nên ông đã đảo ngược tên mình để trở thành bút danh Tuân Nguyễn.

Năm 1960, ông chuyển về làm Biên tập viên chương tình Tiếng Thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Do vị trí công tác, cũng như thái độ nghiêm túc trong công việc, ông có quan hệ rộng rãi với giới văn nghệ sĩ và được nhiều bạn hữu quý mến.

Do tính cách thẳng thắn, ông đã có lần viết một bài phóng sự, phanh phui vụ móc ngoặc tại công trường thủy lợi, nông trường Rạng Đông (Nam Định) nghiệm thu khống, lấy tiền chia nhau. Tuy nhiên, ông bị trưởng phòng biên tập cho là "không có lập trường, nói xấu cán bộ, bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa".

Là một trí thức thuộc thành phần tiểu tư sản, ông thường xuyên gặp rắc rối với những đồng nghiệp cực đoan. Ngày 21 tháng 10 năm 1964, ông bị bắt tại cơ quan với lý do "có ý tưởng đi ngược với đường lối chính sách". Nguyên do được xác định là ông đã có thái độ đồng tình với Dương Bạch Mai, một chính khách có liên quan trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, cùng những ghi chép cá nhân trong nhật ký bị những cán bộ cực đoan suy diễn là "nói xấu chế độ, tư tưởng lệch lạc". Do có mối quan hệ thân thiết với giới văn nghệ, nên việc ông bị bắt vì cuốn nhật ký của mình cất trong ngăn kéo do một đồng nghiệp cùng phòng lấy trộm nộp cho tổ chức, đã làm rung động giới trí thức Hà Nội bấy giờ.

Ông bị đưa đi trại "cải tạo" 9 năm 7 tháng. Năm 1973, ra trại đi làm nghề đánh vécni và dọn vệ sinh ở ga Hàng Cỏ để kiếm sống. Sau năm 1975, ông được xác nhận một lý lịch khác ghi thời gian đi trại là "đi chữa bệnh"!

Cuối năm 1974, ông lập gia đình với nhà thơ Phương Thúy, giáo viên dạy đàn tam thập lục ở Nhạc viện Hà Nội – con gái Hoài Chân (là đồng tác giả Thi nhân Việt Nam với Hoài Thanh). Đầu năm 1976, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Tuân Nguyễn đi dạy học, dịch sách và đi lấy báo cho vợ bán.

Ngày 25 tháng 4 năm 1983, trên đường đi lấy báo về, ông gặp tai nạn giao thông, đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy nhưng không qua khỏi. Trước khi mất, Tuân Nguyễn có một lời trăng trối rất nhân đạo: "Đừng bắt tội người tài xế, ông ấy còn phải nuôi 8 đứa con... Lỗi tại tôi... ".

Tuân Nguyễn qua đời ngày 9 tháng 5 năm 1983 (nhằm ngày 27 tháng 3 năm Quý Hợi), an táng tại lô 7, đường số 3, Nghĩa trang Gò Dưa, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Theo như một số nguồn tin trên báo thì nguyên nhân ông mất là do bị chấn thương sọ não sau khi bị xe ôtô đụng. Trước khi chết, ông còn nói là "Đừng bắt tội người lái xe. Cái kết cục buồn thảm này là lỗi tại tôi… Tôi là người có lỗi…”

Nhà thơ Phương Thuý là con gái nhà phê bình Hoài Chân

Tranh Em Thuý của Hoạ sỹ Trần Văn Cẩn

Trong thời gian chung sống với nhà thơ Phương Thúy, ông bà không có với nhau người con nào.

Sự nghiệp

Khi công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, nhiều bài thơ của Tuân Nguyễn đã được phát trong chương trình Tiếng Thơ. Ngoài ra còn có thơ đăng trên các báo Văn nghệ, Văn học, Thống nhất, tạp chí Đất Quảng... và các tuyển tập: "Thơ tình yêu", Nhà xuất bản Thanh niên, Hà nội, 1963; "Thơ văn 50 năm Đài Tiếng nói Việt Nam", Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1995; "Thơ miền Trung thế kỷ XX", Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995,... Ngoài ra, Tuân Nguyễn còn là dịch giả của tác phẩm "Bim trắng tai đen", Nhà xuất bản Măng Non, 1983, Nhà xuất bản Văn học, 1985, 2007.

Nhà thơ Phùng Quán, người đồng hương, đồng đội, người bạn tri kỷ của Tuân Nguyễn từ thời kháng chiến chống Pháp, có viết bài Người bạn lính cùng tiểu đội đã được in trong tập Ba phút sự thật [6] do Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản lần đầu tiên năm 2006. Bài viết đã phác thảo chân dung Tuân Nguyễn, một trí thức nhân hậu, trung thực, một tâm hồn thật đẹp, một nhân cách tuyệt vời. Sống gần 10 năm ngục tù không tội danh, không bản án, xơ xác thân mình song vẫn đam mê văn chương một cách mãnh liệt. Sau khi cuốn "Ba phút sự thật" được xuất bản, tên tuổi của Tuân Nguyễn mới được công chúng biết tới và từ đó những người bạn của ông mới có cơ sở thực hiện cuốn "Nhớ Tuân Nguyễn", góp phần giải tỏa những oan khuất và trả lại giá trị con người cho ông trước công luận. Tuy nhiên, lúc này thì cả Tuân Nguyễn và Phùng Quán đều đã từ giã cõi đời nhiều năm trước.

Trong tập Nhớ Tuân Nguyễn[4] do nhà thơ Trần Phương Trà sưu tầm, biên soạn (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008) ghi lại những hồi ức của bạn bè, đồng nghiệp của Tuân Nguyễn như: Ngọc Trai, Băng Sơn, Lê Huy Quang, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thái Vũ, Xuân Đài, Đoàn Minh Tuấn, Vũ Từ Trang, Hà Nhật, Nguyễn Bùi Vợi, Dương Tường... và công bố 86 bài thơ của Tuân Nguyễn được sưu tầm từ sách báo và qua trí nhớ của người thân, đồng nghiệp, bạn tù...

Giáo sư, dịch giả Cao Xuân Hạo, một người bạn của Tuân Nguyễn, từng có một nhận xét làm người nghe phải lạnh người: "Khi có ai đó kêu lên: - Trời ơi! Sao mà tôi khổ thế? thì nhìn vào Tuân Nguyễn sẽ thấy rằng mình chưa phải là khổ".

Wikipedia ngày 26 tháng 5 năm 2021 lúc 08:00.

Tù không án bằng một cuộc kháng chiến chống Pháp

Xuân Đài

Thống nhất đất nước ít lâu, tôi và Tuân Nguyễn vào Sài Gòn làm việc. Sau hơn 9 năm lao lý và gần 3 năm thất nghiệp làm những công việc không tên ở Hà Nội: dọn vệ sinh nhà ga, đánh vec-ni, dạy tiếng Pháp cho các em sinh viên con nhà nghèo. Chuyện dạy tiếng Pháp không suôn sẻ là do cơ chế lúc bấy giờ, tôi sẽ kể sau.

Ở Sài Gòn, may mắn Tuân Nguyễn gặp được học sinh cũ của mình thời anh dạy cấp 3 ở Đông Triều vào cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Sau hơn 15 năm các em học sinh miền Nam, bây giờ đã lớn tuổi, nhiều em đang giữ những chức vụ chủ chốt ở các ngành trong thành phố. Gặp lại thầy, biết những thăng trầm thầy đã trải qua, các em đều thương cảm. Chính nhờ các em mà Tuân được Sở Giáo dục Thành phố bổ nhiệm về dạy Văn ở một trường cấp 3 quận Bình Thạnh. Lúc đó tôi làm phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, bộ phận ở Sài Gòn, hầu như chiều nào cũng ghé về Thanh Đa, nơi vợ chồng Tuân cư ngụ để trò chuyện. Tuân kể cho tôi nghe chuyện dạy học, nghề mà anh đã đứt đoạn từ lâu sau khi anh chuyển về Đài Tiếng nói Việt Nam công tác… Và từ nơi đây, Tuân Nguyễn vướng phải vòng lao lý. Chuyện dạy học kể ít, tôi chỉ nhớ Tuân rất khen học trò Sài Gòn ngoan, thật thà và rất nghe lời thầy. Không hiểu vì sao nhiều em biết khá rõ số phận bất hạnh của Tuân Nguyễn nên ba mẹ các em hay gửi quà biếu Tuân. Là người tự trọng, Tuân thường từ chối. Tuân nói với tôi nhiều lúc từ chối không được vì các em năn nỉ trong nước mắt… Chuyện tôi muốn nghe nhất là chuyện những ngày Tuân ở tù. Trong bút ký “Người bạn lính”, Phùng Quán đã viết rất hay, đưa được nhiều chi tiết Tuân đã kể. Tôi kể thêm nữa phỏng có ích gì, liệu có “vượt” được tiểu thuyết gia Phùng Quán không, chắc là không.

*

Tôi gặp Tuân Nguyễn ở nhà Phùng Quán, đúng hơn là nhà vợ Phùng Quán ở phố Hàng Cân - Hà Nội cuối năm 1960, Phùng Quán chỉ vào Tuân giới thiệu: Đây là Tuân Nguyễn, công tác bên Đài Phát thanh rồi lại chỉ vào tôi… Phùng Quán chưa kịp mở miệng, tôi vỗ vai Tuân: còn nhớ mình không? Tuân Nguyễn: quên thế nào được, cậu là thằng Xuân Đài, người Hà Tĩnh… Phùng Quán sửng sốt, thế ra các cậu quen nhau từ lâu à? Tôi cười: mình và Tuân cũng như mình với Quán: anh em bạn cũ lưu tồn, củ khoai chia bốn… Ba chúng tôi phá lên cười.

Vào một ngày cuối hạ đầu thập niên 50, thế kỷ XX, đơn vị của Tuân gồm những người lính bị thương, bệnh tật… gọi là đoàn 54 từ chiến trường Trị - Thiên - Huế kéo về đóng quân ở quê tôi, vùng quê đói nghèo nhất nhì tỉnh Hà Tĩnh. Nhà tôi chật chội nên chỉ có hai anh sĩ quan ở. Tuân Nguyễn và một vài chiến sĩ nữa ở nhà dì ruột và chú tôi (quê tôi không gọi bằng dượng). Thời Pháp thuộc, chú tôi là một ông đốc học. Thời kháng chiến chống Pháp, quê tôi là vùng tự do, chú tôi chuyển sang dạy học một trường cấp 2, dạy Văn. Nhà tôi cách nhà chú hơn cây số, đều nằm dọc sông Ngàn Phố, lâu lâu, tôi ghé lên nhà chú chơi, thường là gặp Tuân Nguyễn ngồi trò chuyện với ông giáo phố huyện. Hai người nói tiếng Việt thì ít mà nói tiếng Pháp thì nhiều. Tôi dốt tiếng Pháp nhưng hiểu lỏm bỏm nhưng nghe những từ như Victor Hugo, Balzac, Dostoievsky… Tôi hiểu hai người đang nói về các nhà văn nổi tiếng thế giới. Những lúc đó tôi thường ngồi trò chuyện với dì tôi và những đứa em. Thường chỉ một lúc sau, chú tôi gọi tôi đến ngồi cùng bàn để nói chuyện với hai người. Tôi nhớ lần đầu tiên chú giới thiệu về Tuân Nguyễn rất ngắn gọn: anh Tuân người Huế, trước lúc đi bộ đội, ở trung đoàn 101, anh đã đậu tú tài đôi, rồi quay sang giới thiệu về tôi cũng rất ngắn gọn: đây là Xuân Đài, cháu gọi nhà tôi bằng dì ruột, mẹ chết sớm nên cuộc sống trần ai lắm, được cái chăm chỉ học hành và rất thích văn học. Anh Tuân và Đài nói chuyện với nhau, chắc là chia sẻ được những đam mê văn chương.

Sau đó, mỗi lần ghé nhà chú, Tuân Nguyễn thường trò chuyện với tôi về văn học Việt Nam hiện đại, thời đó văn học kháng chiến chưa có nhiều tác phẩm, quanh đi quẩn lại là những ký sự mặt trận như Trận Phố Ràng của Trần Đăng, những bút ký, nhật ký của Nam Cao, tiểu thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, trận Ưu Điềm và Thanh Hương của Nguyễn Khắc Thứ. Cho đến hôm nay, đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ đôi mắt sáng sau cặp kính cận và cái miệng cười rất tươi của Tuân khi nói về hai truyện ngắn, một của Kim Lân, truyện Làng, một của Nam Cao, truyện Đôi mắt. Thời đó hai chuyện này in đâu trên Việt Bắc, tôi chưa được đọc. Tiểu thuyết hay, truyện ngắn hay, dù người kể có tài đến đâu cũng không lột tả hết các hay của truyện, nhất là hay trong văn, nhưng Tuân Nguyễn đã làm được điều ấy với tôi. Sau này ở Hà Nội tôi mới có dịp đọc hai truyện ngắn này. Tôi mới nhận ra trí nhớ của Tuân Nguyễn thật tuyệt vời. Kể lại truyện của tác giả khác, anh rất nhạy cảm khi nắm được cái thần của cốt truyện. Có lần tôi hỏi Tuân về tiểu thuyết của một tác giả Việt Nam đương đại khá nổi tiếng, Tuân cười: cốt truyện thì hay, chi tiết phong phú nhưng viết khô quá, không có văn, viết văn trước hết là phải có văn.

Trở lại chuyện Tuân Nguyễn đóng quân ở làng tôi. May mắn cho Tuân, nhà chú tôi rất nhiều sách, bên cạnh tiểu thuyết của Tự lực Văn đoàn, thơ của các nhà thơ mới, có rất nhiều tiểu thuyết bằng tiếng Pháp của các tác giả nổi tiếng. Tôi biết anh mê cụ Dos từ thời đó. Trước mặt Tuân, tôi là một đứa nhà quê, lần đầu tiên được nghe anh giảng giải về số phận các nhân vật trong các tác phẩm cận đại, cổ điển của văn học Phương Tây.

Những người ở đơn vị an dưỡng, sau một thời gian khỏe mạnh đều trở về đơn vị chiến đấu, họ phần lớn là lính của Trung đoàn 95 và 101. Một hôm Tuân Nguyễn xuống nhà tìm tôi, anh cho biết sắp ra trận. Trước lúc lên đường, anh đọc cho tôi nghe bài thơ anh viết về làng tôi. Bài thơ là tình quân dân sâu đậm, cho đến bây giờ tôi chỉ còn nhớ được hai câu: Hương Sơn ơi, thương quá, tôi đi. Không biết còn có ngày trở lại? Và cho đến khi nhắm mắt, Tuân vẫn không có dịp trở lại quê tôi. Những người già trong làng thường nhắc đến anh, thương mến, quý trọng… mỗi lần tôi về quê. Tuân ơi, bạn có biết điều này?

*

Biền biệt 9 năm 7 tháng, từ một vùng rừng núi heo hút nào đó, Tuân mới trở về Hà Hội.

Đó là cuối năm 1973. Tan tầm buổi chiều, tôi dắt xe đạp ra cổng cơ quan, nghe tiếng gọi từ bên kia đường vọng sang: “Đài ơi”. Tôi nhận ra Tuân ngay. Tôi không dám vồ vập với Tuân vì nhiều người trong cơ quan biết Tuân, kể ra như thế cũng hèn, nhưng biết làm sao được khi thế sự nhiễu nhương. Tôi đèo Tuân ra một quán cơm đầu ghế (bây giờ gọi là cơm bụi) để vừa ăn, vừa trò chuyện. Dù biết Tuân không uống rượu, tôi vẫn gọi hai chén “cuốc lùi” đầy nhóc. Tuân cho tôi biết, đã được tha 4 ngày, cách đây 2 ngày về đến Hà Nội, xuống ga Hàng Cỏ ngồi ngơ ngác một lúc ở phố Sinh Từ, nói chuyện với mấy em gái điếm. Chỉ một lúc sau các em đều nhận ra mình là thằng tù vừa được thả, họ tinh quái thật, cũng nhờ sự từng trải của họ mà mình được ăn bún chả, uống nước trà đặc không mất tiền. Một em còn mua cho mình gói thuốc lá, như cậu biết đấy mình không hút thuốc nên từ chối. Cô ấy vỗ vào đùi mình bảo: đã là thằng tù mà còn khách khí như con nhà lành, hay anh là dân thuốc lào? Cô ấy nói vọng vào với bà chủ quán: cho hai gói Tiên Lãng. Mình lắc đầu.

- “Không lá, không lào, thanh niên như anh bây giờ là của hiếm. Tối nay anh về đâu, có bà con ở Hà Nội không? Nghe giọng anh, em biết anh là người miền Trung. Hay tối nay anh về tá túc tạm với chúng em”. Cậu nhớ là chúng em nhé, chứ không phải em đâu. Tuân nhấn mạnh – chúng em có vòm dưới gầm cầu gần chợ Bắc Qua. Các cô ấy là người của đường phố, ngôn ngữ đường phố, bỡn cợt, đùa đùa thật thật, mình vẫn nhận ra cái thật của một tấm lòng.

- Hôm đó không về tá túc cùng các cô gái điếm, cậu về đâu?

- Tớ lếch thếch về nhà Tạ Vũ. Hai vợ chồng Tạ Vũ mừng lắm, vợ Tạ Vũ đi mua nửa con vịt quay, chắc là cô ấy phải đi vay tiền lối xóm, chứ liếc qua gia cảnh, mình biết Tạ Vũ vẫn nghèo như ngày xưa – đột nhiên Tuân Nguyễn hỏi tôi – Sao Hà Hội bây giờ lắm gái điếm vậy?

- Ngày cậu đi, Mỹ mới bắt đầu ném bom xuống Quảng Ninh, Thanh Hóa và Quảng Bình. Mỹ cũng chỉ là mới đánh thăm dò. Những năm sau thì chiến tranh phá hoại quyết liệt lắm, nhà máy, công trường, cầu cống, nhà cửa… tan hoang, kéo theo văn hóa xuống cấp. Chuyện đĩ điếm là điều nhức nhối của nhân dân, nhất là của trí thức. Nhưng mà thôi, việc đó bàn sau. Cậu đã lên Phùng Quán chưa? – Tớ còn ngại. Vì thương Phùng Quán, giữ gìn cho Phùng Quán nên mình chưa lên. Ngay cả với cậu nữa, tính đi tính lại, vì cậu đang làm phóng viên cho báo Đảng nên mình phải cân nhắc, không khéo mình lại là nguyên nhân cho nỗi bất hạnh kéo dài cho các cậu.

Tôi cười: Làm gì nghiêm trọng thế. Mọi người đối với Tuân vẫn như xưa, yêu thương và kính trọng một tài năng và một nhân cách đáng làm gương cho nhiều người. Cậu nên lên Quán ngay cho nó mừng, nó vẫn ở trên bà mẹ nuôi.

- Phùng Quán bây giờ làm gì?

Tôi cho Tuân Nguyễn biết Quán được về làm việc ở Bộ Văn hóa, một anh nhân viên nhì nhằng gì đó, Phùng Quán khoe, vừa được hưởng lương cán sự 1, năm mươi đồng lương chính. Phùng Quán vẫn viết văn chui và câu cá trộm như ngày xưa… “Y vẫn uống rượu chịu chứ?” ( lâu lắm tôi mới gặp lại chữ y mà Tuân thường dùng). Chân dung Phùng Quán vẫn không thoát ra 6 chữ “cá trộm, rượu chịu, văn chui”?

Chia tay tôi muốn biếu Tuân một ít tiền gọi là nhưng chưa tìm được cách đưa cho bạn vì tôi biết Tuân là người lịch sự chứ không quen cách sống bỗ bã như chúng tôi, ngày Phùng Quán sinh đứa con gái đầu lòng, mỗi tháng Tuân biếu Quán năm đồng đều bỏ tiền vào bì thư rồi mới dúi vào túi áo Phùng Quán nói rất nhanh và chuyển sang chuyện khác ngay, nên tôi giả vờ đi vào gian bếp quán ăn rút cái bì thư của cơ quan vẫn dùng để viết thư trả lời bạn đọc để vào đó mười lam đồng dúi vào túi áo trên của Tuân và nói dối: Đây là bài thơ tôi tặng cậu về đến nhà hẵng đọc. Lúc chia tay tôi hỏi Tuân về đâu. Tuân bảo: Bây giờ mình giống thằng Ga-vơ-rốt của cụ Hugo: ai hỏi ở đâu đến, trả lời: Ngoài đường. Ai hỏi bây giờ đi đâu, trả lời: Ra đường.

Tôi bùi ngùi nắm chặt tay Tuân, muốn khóc mà không còn nước mắt. Cay đắng ngập lòng.

*

Chúng tôi rất mừng là Tuân Nguyễn có chỗ tá túc ở ngõ Kiến Thiết, phố Khâm Thiên. Người cho Tuân ở nhờ với mình trong một chỗ che chắn tạm là anh Giang, công nhân, sống độc thân. Anh Giang chăm sóc Tuân Nguyễn chu đáo như chăm sóc một người bạn thân, như một người anh ruột, dù anh Giang quen Tuân là một sự tình cờ do nhà thơ Trần Hồng Thắng giới thiệu ở một quán cơm bình dân. Bạn bè Tuân, chạy xuôi chạy ngược kiếm việc cho Tuân làm. Họa sĩ Chu Hoành rủ Tuân đi làm nghề móc cống, việc mà Chu Hoạch vẫn làm. Bạn bè ái ngại cho sức khỏe của Tuân nên can ngăn. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ người bạn thời sinh viên với Tuân bố trí cho Tuân một chỗ dạy tiếng Pháp. Học viên có vài em là sinh viên của 3 trường đại học. Mới dạy được vài ngày, công an, cán bộ tiểu khu (đơn vị hành chính ngang với Phường bây giờ) đến dẹp với lý do Nhà nứơc không cho phép dạy tư nhất lại là dạy tiếng Pháp, tiếng của bọn… thực dân. Tuân Nguyễn lại lang thang lếch thếch sống nhờ vào lòng ưu ái của bạn bè. Số người này khá đông. Số phận dun dủi, hay là sự sắp đặt của trời phật, Tuân Nguyễn gặp Phương Thúy, cô giáo dạy nhạc, con nhà văn Hoài Chân (cụ Hoài Chân em ruột cụ Hoài Thanh) Phương Thúy và Tuân Nguyễn lấy nhau không có đám cưới chỉ có một bài thơ đường, thất ngôn bát cú, Tuân làm thật xúc động, ngậm ngùi. Ít lâu sau nhờ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, chút ít vốn liếng Phương Thúy dành dụm được, với ít nhiều “viện trợ không hoàn lại” của bè bạn, Thúy Tuân sang được một gian phòng nhỏ ở trong ngõ cụt đường Trần Hưng Đạo (xin các bạn đọc bài của Phùng Quán viết về Tuân sẽ hiểu về gian phòng này).

Phùng Quán gặp tôi báo tin mừng Tuân đã được nhà thơ Lương Vĩnh kéo đi phụ việc đánh véc-ni với anh. Mấy hôm sau gặp lại Tuân, Tuân cho biết nghề này cũng nhẹ nhàng và cũng kiếm đủ ăn nhưng hơi độc hại vì suốt ngày tiếp xúc với sơn, xăng, dầu hỏa… Tuân cho biết dạo này anh bị ho. Nói rồi Tuân ôm ngực ho khụ khụ. Bạn bè muốn để Tuân đi khám bệnh, khổ nổi, Tuân không phải là cán bộ, có hộ khẩu nhân dân nhưng chưa xin được y bạ, chẳng biết khám ở đâu là đúng tuyến. Chúng tôi, quen biết nhiều bác sĩ, không may, chẳng có ai là chuyên khoa lao. Tôi dặn Tuân Nguyễn hai hôm nữa đến gặp tôi, tôi sẽ có cách để Tuân Nguyễn được chiếu phổi. Đúng hẹn, Tuân đến. Ngày hôm sau, tôi lên gặp y sĩ ở phòng y tế cơ quan, khai bị ho cả tuần nay. Tôi ho liên tục cho y sĩ nghe. Lâu lâu đi qua, đi lại trước phòng y tế húng hắng ho. Tôi là dân thuốc lào nên “diễn kịch” ho không có gì khó. Sáng hôm sau, tôi nói với bà y sĩ cho tôi giấy đi chiếu phổi. Bà hỏi rất kỹ về quá trình phát bệnh của tôi. Nhờ có đọc sách y nên tôi biết ho lao là ho khan vào buổi chiều, không có đờm, cứ thế tôi “ba hoa” với y sĩ… Tôi đến gặp Tuân Nguyễn đưa y bạ của tôi kèm theo giấy giới thiệu, cười cười bảo với Tuân: ngực của cậu, giấy tờ mang tên tớ, cứ vậy mà chiếu phổi. Suy nghĩ một lúc, Tuân ngập ngừng, gian dối thế này nguy hiểm lắm, nhất là hệ lụy cho cậu. Tôi nói cứng, cậu đừng ngại vì y bạ không có ảnh, tuổi cậu tuổi tớ lại xấp xỉ nhau, chúng ta lại nói giọng miền Trung cả, tốt nhất là cậu hết sức bình tĩnh khi người ta hỏi về bệnh tình. Cầu trời phù hộ cho chúng ta, không bị lộ. Nếu lộ, tội vạ đâu tớ chịu. Đi tù là cùng chứ gì. Cậu ngồi tù được, chẳng lẽ tớ đây lại không! Tuân Nguyễn có vẻ xuôi tai, tôi đưa anh ra phố Quan Thánh là trạm chiếu phổi của y tế khu Ba Đình (thời bấy giờ khu tương đương với quận). Tôi ngồi tựa lưng vào gốc cây, đọc sách và chờ Tuân, chữ nghĩa không vào đầu tôi. Nói cứng với Tuân, thực ra tôi cũng rất run, sự thể xảy ra thế nào khó lường trước được. Đây là lần đầu tiên vì sức khỏe của bạn mà tôi làm điều dối trá… Hơn một tiếng đồng hồ sau, Tuân cầm kết quả ra (thời đó bệnh nhân không được giao phim chiếu phổi, mà chỉ giao kết quả viết trên giấy) mừng quá vì tất cả đều có chữ ras (bình thường). Tuân lên tàu điện về nhà, tôi trở về cơ quan làm việc.

Tôi nhờ một nghệ sĩ ở đoàn kịch trung ương xin cho 2 tấm vé mời xem kịch của Liên Xô đến biếu bà y sĩ, thay lời cảm ơn và đưa y bạ cho bà coi. Bà vui vẻ nhận giấy mời xem kịch. Xem xong y bạ, bà phán một câu: tôi đã nói mà, anh ho vì hút thuốc quá nhiều, lộn xộn cả thuốc lá lẫn thuốc lào, chứ ho lao ho liếc gì đâu.

Tôi nhớ trước lúc chia tay Tuân, tôi cẩn thận dặn không được nói chuyện chiếu phổi hôm nay với bất cứ ai, kể cả Phương Thúy…

Bà y sĩ, nay là bác sĩ đã nghỉ hưu, bà Khanh. Xin bà tha lỗi cho tôi về điều gian dối bất đắc dĩ này, nếu như bà có dịp đọc những dòng này.

*

Vào một ngày đầu thu năm Giáp Thìn (1964), Tuân Nguyễn cho bạn bè biết bị ai đó mở ngăn kéo bàn viết, khóa rất kỹ, lấy mất quyển nhật ký và một khâu vàng. Khâu vàng là gia tài lớn nhất của Tuân. Tuân bảo nhật ký mình ghi cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, những chuyện riêng tư và một số nhận định của mình về thời cuộc của đất nước. Phùng Quán an ủi Tuân là thằng lưu manh nào đó, mục đích là lấy chỉ vàng, tiện thể tò mò cầm quyển nhật ký về đọc chơi. Đọc xong nó quẳng vào sọt rác thế là hết chuyện…

Tuân Nguyễn ngồi tư lự trước lời an ủi của Phùng Quán. Chúng tôi đều biết, Phùng Quán nói vậy là để trấn an Tuân thôi, thực lòng chúng tôi còn nghĩ theo một hướng khác, bất lợi cho sinh mạng chính trị của Tuân, nhưng không ai nỡ nói ra… Đầu tháng 11 năm ấy, Tuân gửi cho tôi một lá thư qua đường bưu điện dặn tôi đừng đọc bài thơ “Khóc thầy” của Tuân mới làm, và dặn tôi đọc xong thư này thì đốt đi không nên lưu giữ làm gì. Tôi đã làm theo nguyện vọng của Tuân. Cho đến bây giờ đã hơn 40 năm, tôi còn nhớ vài đoạn trong bài thơ ấy:

Một tiếng nói chúng tôi chờ đã mất

Tiếng nói của lương tâm

Đau đớn này đau đớn nào hơn

Chân lý không muốn nằm dưới đất

 

Chúng tôi sống bây giờ

Mỗi khuôn mặt đều có phần bí ẩn

Mỗi trái tim đều có phần im lặng

Mỗi niềm tin đều mất chút ngây thơ

Thầy bỗng nối như cánh buồm hi vọng

Như cầu vồng nối với chân trời xa

Tiếng của thầy là của người cộng sản

Chân lý rồi sẽ thắng mọi phong ba

Chúng tôi biết chưa phải là đã hết

Trên đau thương sẽ có triệu lời ca

Không thể có nhiều chim câu bị giết

Chân lý cuộc đời mãi mãi thuộc chúng ta

Chẳng khác gì thần Tăng Tan chuyện cũ

Nước rất gần mà cháy bỏng khô môi

Chúng tôi muốn sớm giã từ quá khứ

Nhưng tương lai thành mờ nhạt mất rồi.

Chúng con đi sau linh kiệu của thầy

Nhưng không phải đưa thầy ra nghĩa địa

Tôi lục lại trí nhớ già cỗi của mình chỉ nhớ được chừng đó, thực ra bài thơ này của Tuân Nguyễn còn mấy đoạn nữa.

Kẻ nào đã lấy cắp quyển nhật ký của Tuân, tên lưu manh chuyên nghiệp hay một kẻ nào đó vẫn nhận là bạn của Tuân? Không hiểu tại sao nhiều anh em hướng mũi dùi nghi vấn kẻ lấy cắp nhật ký là người đồng nghiệp, đồng hương với Tuân là Trần Nguyên Vấn. Tôi và Phùng Quán hiểu Vấn, anh là người có tư cách, thương Tuân thật lòng không bao giờ làm chuyện đó. Nhưng “hai cái mồm thơ không cãi lại cuộc đời”. Sau này chúng tôi nhiều lần hỏi Tuân việc mất nhật ký cậu có nghi cho ai không? Tuân liền gạt đi: việc đã lâu rồi, một mất mười ngờ, theo mình cho nó qua đi, nhiều đứa nói đến tai mình là nghi cho Vấn, mình không bao giờ tin Vấn làm chuyện đó, anh em bạn bè không hiểu Vấn bằng mình hiểu đâu. Tất cả những gì Vấn đã làm cho mình trong những ngày mình ở trong tù và sau khi ra tù đều xuất phát từ trái tim nhân ái…

Trần Nguyên Vấn rất đau khổ trước sự độc mồm của thiên hạ, thanh minh với ai, thanh minh để làm gì, ai tin. Dù vậy chúng tôi và cả Vấn nữa vẫn muốn biết sự thật. Người cho chúng tôi biết sự thật là hai nhà văn Phạm Tường Hạnh và Mai Văn Tạo (hai anh đều là đảng viên) cùng làm việc ở phòng văn nghệ Đài Phát thanh TNVN thời bấy giờ, người nộp quyển nhật ký của Tuân cho chi bộ phòng văn nghệ, sau đó phòng văn nghệ chuyển lên cho lãnh đạo… là Phan Trắc Hiệu.

Chúng tôi rất ngạc nhiên về sự thật trần trụi này. Nhưng cũng nghĩ, chắc lúc đó, Phan Trắc Hiệu đang sống rất bê bối, nhiều tai tiếng, chắc anh ta muốn lập công để tự cứu lấy mình, chứ cũng không lường hết hậu quả khốn khổ cho đời Tuân. Có người cho là cách nghĩ của chúng tôi về Hiệu quá nhân ái, không, chúng tôi là những người cầm bút trung thực, suy nghĩ trung thực… Hiệu có tự cứu được mình đâu, ít lâu sau anh vẫn bị “mời” ra khỏi Đảng vì cách sống tha hóa của mình.

Biết được việc này, lòng chúng tôi nhẹ đi, thư thái, vì giải tỏa được một “nghi án”. Và Trần Nguyên Vấn chắc cũng có tâm trạng như chúng tôi, đúng không anh?

Tuân Nguyễn đã qua đời hơn ba chục năm nhưng giọng nói nhỏ nhẹ của Tuân, nụ cười ưu ái với bạn bè và câu thơ anh làm sau khi ra tù “Cuộc đời vui quá không buồn được” luôn luôn ám ảnh tôi.

Trong giấc ngủ chập chờn, Tuân Nguyễn thỉnh thoảng về trò chuyện với tôi. Những lần như thế tôi cứ nghĩ, Tuân Nguyễn chưa bao giờ rời bỏ bạn bè.

Sáng nào tôi cũng thắp hương cho Tuân Nguyễn, Phùng Quán, Phùng Cung… những người bạn một thời lận đận. Cầu xin các anh phù hộ cho những người thân trong gia đình và bè bạn khỏe mạnh, ngày càng có cuộc sống tốt đẹp hơn…

Cứ ngẫm nghĩ, Tuân Nguyễn đi tù không án 9 năm 7 tháng bằng một cuộc kháng chiến chín năm mà anh tham gia với tư cách là anh bộ đội cụ Hồ không chỉ chiến đấu trong nước mà anh còn là tình nguyện quân chiến đấu ở Lào, lòng tôi buồn man mác.

Tại sao những người yêu nước lại phải vào tù một cách vô lối?

XĐ.

Nhớ Tuân Nguyễn

Trần Phương Trà

Cuối năm 1961, tôi trở thành biên tập viên của chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Tôi rất vui mừng khi được cùng làm việc với anh Tuân Nguyễn, là người cùng quê ở Huế. Anh Tuân Nguyễn trước dạy học ở trường học sinh miền Nam, về Đài năm 1960.

Tốt nghiệp khóa 3 khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1961, tôi được phân công về Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao.

Tôi làm việc ở đây hai tháng thì chị Nông Thị Nhuận, người bạn cùng lớp đang làm biên tập chương trình Đọc truyện đêm khuya cho tôi biết tiết mục Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) cần người. Tôi liền đến gặp nhà văn Trọng Hứa, lúc đó là Trưởng phòng Văn nghệ và gặp phòng Tổ chức của Đài để xin chuyển công tác và được Đài chấp nhận.

Cuối năm 1961, tôi trở thành biên tập viên của chương trình Tiếng thơ. Tôi rất vui mừng khi được cùng làm việc với anh Tuân Nguyễn, là người cùng quê ở Huế. Anh Tuân Nguyễn trước dạy học ở trường học sinh miền Nam, về Đài năm 1960.

Năm 1961, phòng Văn nghệ của Đài gồm các tổ văn học, âm nhạc và sân khấu truyền thanh chuyển về làm việc ở dãy lầu phía trước nhà 20 phố Tràng Tiền. Vì lúc đó, Đài TNVN đã phá một khu nhà cũ để xây dựng một ngôi nhà ba tầng có hội trường lớn.

Phía sau của nhà 20 Tràng Tiền có một số gia đình cán bộ công nhân của Đài ở. Một số biên tập viên văn nghệ như Tuân Nguyễn, Phan Huy Niệm, Bùi Bình Thi, Nông Thị Nhuận và tôi cũng ở 20 Tràng Tiền.

Mấy năm, chúng tôi sống ở 20 Tràng Tiền, có nhiều kỷ niệm thân thiết. Từ cuối năm 1961 đến tháng 10 năm 1964, ba năm sống gần anh Tuân Nguyễn, tôi học ở anh nhiều điều. Đó là một người giàu kiến thức, giỏi ngoại ngữ, ham đọc, ham đi thực tế, ham viết. Anh Tuân Nguyễn trực tiếp hướng dẫn tôi bắt đầu biên tập và dàn dựng chương trình Tiếng thơ.

Trở thành diễn viên ngâm thơ chuyên nghiệp của Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1960, chị Trần Thị Tuyết có nhiều năm làm việc với những biên tập viên Tiếng thơ trong đó có anh Tuân Nguyễn. Nghệ sĩ ưu tú Trần Thị Tuyết nói về anh Tuân Nguyễn:

- Anh Tuân Nguyễn là một người trí thức lịch sự. Anh nói với tôi: Ngâm thơ trước hết phải có xúc động thực sự trước bài thơ, phải có tâm hồn. Anh ngâm thơ theo giọng Huế, rành rọt, có phong cách riêng. Những lần thu thơ, anh góp nhiều ý kiến cho tôi để ngắt câu, để diễn đạt cho đúng ý đồ của tác giả.

Tại 20 Tràng Tiền, Tuân Nguyễn ở một phòng nhỏ trên gác 2. Tủ sách của anh có nhiều sách tiếng Pháp, tiếng Anh. Anh nói với chúng tôi nhiều về các tác phẩm của Đốxtôiépxky và tiểu thuyết Jăng Cơrixtốp của Rômanh Rôlăng. Tuân Nguyễn mang kính cận đôi mắt tròn, khuôn mặt gầy trông giống một đồ đệ của Đốt nên anh em thường gọi đùa anh là "cụ Đốt".

Ăn cơm chiều xong, nhiều hôm Tuân Nguyễn cùng Nông Thị Nhuận và tôi ra hiệu sách ở Tràng Tiền gần nhà để tìm những sách mới về và xem kỹ cả gian hàng sách cũ. Anh hưởng lương cán sự  5 báo chí, mỗi tháng được 88 đồng.

Chưa có gia đình riêng, với giá sinh hoạt hồi ấy, cuộc sống của anh cũng tươm tất. Thường quần áo anh gửi ở hiệu giặt là. Khi anh Phùng Quán có con gái đầu lòng, Tuân Nguyễn giành mỗi tháng 5 đồng mua sữa cho cháu. Phùng Quán cùng các anh Dương Tường, Cao Xuân Hạo, Chương Thâu… cũng hay đến thăm Tuân Nguyễn. (Sinh thời, Phùng Quán có làm hai trang thờ: một thờ nữ Anh hùng Võ Thị Sáu và một thờ Tuân Nguyễn, người vừa là đồng hương, đồng đội vừa là bạn tri âm tri kỷ của anh).

Tháng 10/1962, phái đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc, trong đoàn có nhà thơ Thanh Hải. Chúng tôi làm chương trình Tiếng thơ để chào mừng Đoàn và đón Đoàn đến thăm Đài TNVN. Tuân Nguyễn viết hai bài thơ "Lời chào hy vọng" và "Gửi người đồng hương". Bài "Lời chào hy vọng" cùng một số bài thơ của các tác giả khác đã được phát thanh ở Tiếng thơ.

Tôi nhớ mấy câu thơ trong "Lời chào hy vọng":

"Đây tôi lặng nhìn anh

Tôi nhìn mặt

Tôi nhìn đôi mắt vừa mới khóc

Đây tôi nhìn cái nhìn còn phảng phất

Chị em tôi trong ấy đã nhìn anh".

Lúc nào anh cũng thấy dạt dào niềm vui nhất là khi có nhiều cô sinh viên đến thăm anh hoặc khi anh có người yêu: "Cuộc đời vui quá không buồn được". Tôi đã gặp chị Lý mặc chiếc áo dài màu xanh hoa lý, người gầy, dong dỏng, mái tóc dài buông xuống lưng… Chị đến làm sáng bừng lên căn phòng chật hẹp của anh Tuân Nguyễn. Anh viết bài thơ "Màu hoa lý" để tặng người yêu.

Với giọng nhỏ nhẹ, có duyên, Tuân Nguyễn thích nói đùa, thích kể chuyện vui, chuyện tiếu lâm. Anh không thích bóng đá, không thích ca cải lương và vọng cổ.

Đầu năm 1964, Tuân Nguyễn được chuyển về làm việc ở buổi phát thanh nông nghiệp của Đài Tiếng nói Việt Nam. Vốn là một con người mơ mộng, Tuân Nguyễn ép mình vào công việc cụ thể của một phóng viên nông nghiệp. Ngày 15-10-1964, người thợ điện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn tại nhà lao Chí Hòa. Tuân Nguyễn có viết bài thơ ca ngợi anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Trước đây, anh cũng đã viết những bài thơ ca ngợi Trần Thị Lý, Lê Quang Vịnh…

Bẵng đi gần chục năm tôi không được gặp anh… Tháng 8 năm 1973, tôi ở chiến trường ra Hà Nội công tác và bị viêm gan do sốt rét phải đi nằm bệnh viện. Cuối năm ấy, tôi gặp lại Tuân Nguyễn. Anh cho tôi biết đã nhận đầy đủ thư từ và các thứ tôi gửi cho. Tôi chuyển lại cho anh một cái bàn gỗ, một chiếc ghế gỗ và cái giá sách đóng bằng mây đầy các sách tiếng Pháp, tiếng Anh. Anh Cao Đức Cẩn ở Đài TNVN đã giữ hộ giá sách này vì thời gian tôi đi B, vợ tôi phải đi sơ tán nhiều nơi không thể mang sách theo…

Cuối năm 1974, Tuân Nguyễn và Phương Thúy (con gái nhà phê bình văn học Hoài Chân - đồng tác giả "Thi nhân Việt Nam") tổ chức lễ thành hôn. Bạn bè cảm động khi nhận được bản chép tay bài thơ "Thơ mời bạn bè ngày cưới" của Tuân Nguyễn

Quá nghèo nên tạm thế này thôi

Đâu dám làm cho khác mọi người

Thiếu rượu vì tin tình nghĩa bạn

Không hoa, mong hiểu vợ chồng tôi

Bao năm ngoảnh lại tay hoàn trắng

Một sáng nhìn lên miệng hé cười

Thiếp báo là thơ - giờ gửi tới

Xin mời, có dịp đến nhà chơi.

Mỗi người góp một chút quà tặng để chia vui với vợ chồng anh. Sau năm 1975, Tuân Nguyễn và Phương Thúy vào ở lô K cư xá Thanh Đa, quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Tuân Nguyễn đã chép bài thơ "Lời chào hy vọng" anh viết năm 1962 để tặng lại giáo sư Nguyễn Văn Hiếu khi giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa.  Anh được tiếp nhận làm giáo viên của Trường nghiệp vụ Bộ Văn hóa ở quận Thủ Đức. Tuân Nguyễn đi dạy học, dịch sách báo và đi lấy báo cho vợ bán.

Ngày 25/4/1983, trên đường đi lấy báo về, Tuân Nguyễn bị tai nạn giao thông. Bị xuất huyết não cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy và qua đời ngày 9 tháng 5 năm 1983 (tức ngày 27 tháng 3 năm Quý Hợi, thọ 50 tuổi). Trước khi mất, Tuân Nguyễn đã có một lời trăng trối rất nhân đạo: "Đừng bắt tội người lái xe. Người lái xe có tám con.... Lỗi tại tôi...".

Sinh thời, qua những lần tâm sự với Tuân Nguyễn, tôi hiểu thêm nỗi cơ cực của anh, những tháng ngày phải đi đánh vécni, phải đi đổ thùng ở ga Hàng Cỏ… Với vóc dáng gầy guộc, chân tay lèo khoèo, thậm chí khi ở 20 Tràng Tiền, có lần anh còn ngây thơ hỏi tôi một bao thuốc lá có bao nhiêu điếu…

Nhiều bài thơ của Tuân Nguyễn đã được phát thanh trong chương trình Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam, đăng trên các báo Văn học, Văn nghệ, Thống nhất...., Tạp chí Đất Quảng.... và trong các tuyển tập: "Tập thơ tình yêu" (NXB Thanh Niên, 1963), "Thơ văn 50 năm Đài Tiếng nói Việt Nam", (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội - 1995), "Thơ miền Trung thế kỷ XX" (NXB Đà Nẵng, 1995)... Các NXB Văn học Măng non, Kim Đồng đã xuất bản cuốn "Con Bim trắng tai đen" của nhà văn Nga Gavriil Troepolxki do Tuân Nguyễn dịch.

Năm 2007, ở thủ đô cũng như ở thành phố Hồ Chí Minh, nhiều cựu sinh viên khóa I (1954-1957) trường Đại học Sư phạm Văn khoa Hà Nội đã có những cuộc họp mặt thân mật, ấm áp tình bạn, kỷ niệm 50 năm ra  trường. Khóa I có 167 sinh viên. Nhiều tình cảm thương tiếc giành cho các thầy và các bạn đã qua đời.

Riêng các bạn cùng khóa ở thành phố Hồ Chí Minh đã làm cuốn sách "Những người muôn năm cũ" tưởng nhớ các thầy các bạn đã mất. Bên cạnh hình ảnh và các bài viết về các  giáo sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu và các bạn như Nguyễn Sỹ Lý, Đinh Xuân Hiền, Nguyễn Sỹ Bá, Nguyễn Hoàng Mai, Phùng Văn Nghệ, Hoàng Thiệu Khang, Hoàng Lân,  cuốn sách có nhiều trang đăng ảnh, tiểu sử, thơ Tuân Nguyễn và trích hồi ký "Người bạn lính cùng tiểu đội" của nhà thơ Phùng Quán.

Tháng 12/2007, các anh Lê Văn Bài, Đoàn Minh Tân (cựu sinh viên cùng khóa I Tuân Nguyễn), cô Nguyễn Thị Minh Nguyệt và tôi tìm viếng mộ Tuân Nguyễn. Loay hoay hơn nửa giờ vẫn chưa tìm thấy mộ. Với bản thảo cuốn "Nhớ Tuân Nguyễn"  trong đó có hình ảnh Tuân Nguyễn đeo kính, tay cầm bút (tấm ảnh được khắc trên bia mộ), chúng tôi đưa ra  hỏi những người quản lý các lô ở nghĩa trang Gò Dưa về ngôi mộ của người trong ảnh.

Ngay lập tức chúng tôi được các anh ấy đưa đến tận mộ. Chúng tôi bày lễ vật và thắp hương tưởng niệm anh. Tôi đặt tập bản thảo cuốn sách lên mộ khấn anh: "Đây là tâm huyết của người thân và nhiều bạn bè giành để tưởng nhớ anh. Mong anh phù hộ cho mọi việc tốt đẹp!". Tôi đọc bài thơ  "Vẫn còn đây một người Huế" và hóa bài thơ trên mộ anh.

Mỗi người một khía cạnh, những tấm lòng bạn bè giành cho nhà thơ Tuân Nguyễn qua các trang hồi ký mới thật chân thành cảm động

Trần Phương Trà

vnca.cand.com.vn/ 13:30 12/08/2008

Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,787,637

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/